Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

Hịch tướng sỹ của Hưng Đạo Vương được công bố ở đâu?

Hịch tướng sỹ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, từ lâu được coi là áng hùng văn bậc nhất của văn chương trung đại. Tuy nhiên, bài hịch này được công bố khi nào, ở đâu, cho tới giờ vẫn là một ẩn số.

Công bố ở bến Đông Bộ Đầu?
Các bộ chính sử của ta còn giữ được đến ngày nay không ghi chi tiết việc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn công bố Hịch tướng sỹ ở đâu và khi nào. Tuy nhiên, dựa vào dã sử và các văn bia còn lại ở Hà Nội, chúng ta có thể đưa ra những đoán định về mặt thời gian cũng như địa điểm mà tác phẩm văn chương yêu nước bất hủ này được công bố. Để tìm hiểu rõ hơn, chúng tôi tìm về đền Sơn Hải nằm sâu trong những ngõ nhỏ trên phố Bạch Đằng, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, đền sừng sững nhìn ra sông Hồng với vẻ uy nghiêm, trầm mặc. Ông Trần Văn Hai, thủ từ đền Sơn Hải cho biết: "Đền Sơn Hải có tên chữ là Sơn Hải linh từ (gọi nôm là đền Cửa Sông), tọa lạc tại bến Chương Dương. Đền thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và các danh tướng của ông. Đền do 6 làng vạn chài xung quanh đó tạo dựng vào năm 1785, tại địa danh lúc ấy là Vạn An xứ hoàng, thôn Đông Bộ Đầu, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương (ngày nay thuộc khu vực phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội).
Cổng đền Sơn Hải hiện có bức tượng Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn uy dũng chỉ tay trông về hướng sông Hồng.
Khoảng cuối thế kỷ XIX thì sáu làng vạn chài này hợp lại thành một thôn có tên là Cơ Xá, sau đó, tổng đổi thành Tả Túc. Đời nối đời, dân vùng sông nước Đông Bộ Đầu vẫn thờ cúng trang nghiêm để tưởng nhớ chiến công lẫy lừng của Ngài (tức chỉ Trần Quốc Tuấn). Bởi ở đây, vào ngày 21 tháng 1 năm 1258  - cuộc xâm lược của quân Mông Cổ vào Đại Việt lần thứ nhất - đã diễn ra trận chiến đấu quyết liệt do Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, vua Trần Thái Tông và Thái tử Hoảng trực tiếp chỉ huy. Họ đã đánh tan quân Nguyên - Mông, giải phóng kinh thành Thăng Long. Tháng 8 năm 1284, tức là thời điểm quân Mông Cổ, lúc đó đã lập ra nhà Nguyên vào xâm lược Đại Việt lần thứ hai, Hưng Đạo Vương đã tổ chức tập trận tại bến Đông Bộ Đầu và công bố Hịch tướng sỹ để khích lệ quân dân ta.
Như vậy, theo ghi chép lưu giữ tại đền Sơn Hải thì Hịch tướng sỹ được công bố vào tháng 8 năm 1284 tại bến Đông Bộ Đầu, trong hoàn cảnh khi Hưng Đạo Đại Vương điểm binh tại đây. So sự kiện được ghi chép trong chính sử, ta thấy khá trùng khớp. Đại Việt Sử ký toàn thư chép: "Mùa thu, tháng 8 (1284)  Hưng Đạo Vương điều các quân của vương hầu, duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu, chia các quân đóng giữ Bình Than và những nơi xung yếu khác". Mặc dù chưa có căn cứ chính xác khẳng định Đông Bộ Đầu là nơi Hưng Đạo Vương công bố Hịch tướng sỹ  nhưng xét hoàn cảnh lúc đó, chúng ta có thể thấy khá phù hợp. Bởi lẽ, xâm chiếm Đại Việt lần hai, quân Nguyên - Mông đưa xuống gần 50 vạn quân, khí thế ngút trời trong khi lúc bấy giờ, điểm binh, quân ta chỉ có khoảng 20 vạn. Điều quan trọng là lúc đó, quân Nguyên - Mông tiến xuống Thăng Long với vận tốc nhanh chóng mặt, gần như có thể phá vỡ mọi trận địa của chúng ta, khiến lòng quân rất nao núng. Có thể thấy, trong suốt ba cuộc xâm lăng của quân Nguyên - Mông thì cuộc chiến lần hai là cam go, căng thẳng nhất. Trong hoàn cảnh như vậy, đức Hưng Đạo Vương công bố Hịch tướng sỹ và Binh thư yếu lược (sách dạy các tướng cách đánh giặc Nguyên) cũng là điều hợp lý, nhất là trong bối cảnh duyệt binh trang nghiêm như vậy.
Ông Trần Văn Hai: Đây là nơi duy nhất ở Hà Nội thờ hoàng tộc nhà Trần.
Bến Đông Bộ Đầu nay ở đâu?
Ngôi đền thờ hoàng tộc nhà Trần duy nhất tại Hà Nội
Trao đổi với PV báo ĐS&PL, ông Trần Văn Hai, thủ từ đền Sơn Hải cho biết: "Ở Hà Nội hiện nay, đây là nơi duy nhất thờ hoàng tộc nhà Trần cũng như đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và các bộ tướng của Ngài. Được dựng trên nền đất cũ là bến Đông Bộ Đầu khi xưa, ngôi đền trở thành địa điểm văn hóa tâm linh quan trọng để con cháu họ Trần, kể cả những vị lãnh đạo về đây làm lễ hàng năm".     
Như vậy là chúng ta đã có thể xác định được thời gian và địa điểm công bố Hịch tướng sỹ là tại bến Đông Bộ Đầu vào tháng 8 năm 1284. Tuy nhiên, ngày nay bến sông này nằm ở vị trí nào thì vẫn là một đề tài gây nhiều tranh cãi. Thực ra trong chính sử, bến Đông Bộ Đầu là một địa điểm được nhắc đến nhiều lần ở giai đoạn thời Lý, Trần, Lê. Nó không chỉ là một bến sông mà còn mang tính chiến lược về quân sự trên sông Hồng. Đây là con sông án ngữ, trước khi vào kinh kỳ xưa, là nơi đã diễn ra nhiều trận quyết chiến của quân dân ta chống xâm lược Nguyên, Minh... Trước đây, nhiều nhà sử học đã xác nhận, vị trí Đông Bộ Đầu thuộc huyện Thượng Phúc (nay là huyện Thường Tín) tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) với lý do là ven sông Hồng thuộc huyện đó còn một xã tên là Bộ Đầu.
Tuy nhiên, cố GS. Trần Quốc Vượng (nhà nghiên cứu lịch sử nổi tiếng) khi tìm hiểu về vấn đề này đã có một phát hiện quan trọng. Theo văn bia thời Lê Trung Hưng ở chùa Hòe Nhai (nay thuộc phố Hàng Than, Hà Nội) có ghi rất rõ ràng. Văn bia đề ngày 21 tháng Chạp năm 24 hiệu Chính Hoà triều Lê (1703 - đời Lê Hy Tông và chúa Trịnh Căn) do Hà Tông Mục (người Thiên Lộc, nay là Can Lộc, Hà Tĩnh) đỗ tiến sỹ khoa Mậu Thìn (1688) soạn, nhân dịp làm lại chùa Hồng Phúc. Văn bia có đoạn: "Phường Hòe Nhai ở bến Đông Bộ Đầu của thành Thăng Long nước Đại Việt có ngôi chùa tên là Hồng Phúc, lấy Lô giang (sông Hồng) làm đai, Tô Lịch làm vạt, chắn ngang non Tản mà chầu về cung vua".
Dựa vào tư liệu này và quá trình điền dã quanh khu vực chùa Hòe Nhai, cố GS Trần Quốc Vượng viết những dòng này từ năm 1965: "Chùa Hồng Phúc nay ở cạnh số nhà 17 phố Hàng Than, gần dốc lên đê Yên Phụ, xưa thuộc địa phận xã Hòe Nhai, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Hà Nội. Phố Hòe Nhai ở mé dưới chùa, chạy thẳng ra đê Yên Phụ. Vậy, Đông Bộ Đầu là bến sông Hồng ở vào khoảng từ dốc Hàng Than đến dốc phố Hòe Nhai hiện nay, mé trên cầu Long Biên một chút. Thượng toạ Thích Tâm Huy (năm nay 72 tuổi, trụ trì chùa Hồng Phúc và ở chùa này từ bé) cho chúng tôi biết, hồi còn bé, Thượng toạ vẫn đi cổng sau chùa ra tắm ở bến sông này, thuyền bè đậu san sát ở đó".
Thế nhưng, khi chúng tôi về đền Sơn Hải để tìm hiểu thông tin thì cụ Trần Văn Hai lại cho biết: "Đền Sơn Hải thờ đức Hưng Đạo Vương và các bộ tướng của mình trên địa điểm bến Đông Bộ Đầu khi xưa. Nguyên đền này được những cư dân vạn chài ở vùng Tức Mặc (Nam Định) lên sinh sống ở Thăng Long lập nên từ giữa thế kỷ XVIII. Điều quan trọng là những người lập đền thờ này đều là người họ Trần, vì muốn tưởng niệm đức Hưng Đạo Đại Vương cũng như cha ông họ đã ngã xuống tại bến sông này mà lập nên. Vì vậy, đền này ban đầu giống như một nhà thờ họ hơn là ngôi đền truyền thống. Các triều đại phong kiến sau này có phong sắc và tu bổ thêm nên mới thành ra ngôi đền chung của dân cư quanh khu vực". Nếu như, tư liệu về đền Sơn Hải là đúng thì vị trí của bến Đông Bộ Đầu có vênh với vị trí mà cố GS. Trần Quốc Vượng khẳng định gần 1km.
Tuy nhiên, tìm hiểu tiếp lịch sử ngôi đền này chúng tôi được biết, vào những năm đầu của thế kỷ XX thì ngôi đền không nằm ở vị trí như hiện nay. Do đặc trưng nằm ở bến bồi của sông Hồng nên vị trí ngôi đền cổ nằm sát đê Nguyễn Khoái và giáp với đê Yên Phụ ngày nay. Tuy nhiên, do chiến tranh cùng với lệnh tiêu thổ kháng chiến, ngôi đình cũ bị phá hủy hoàn toàn. Mãi sau,  miền Bắc độc lập, con cháu họ Trần mới gom góp tiền bạc, dựng một ngôi đình trên nền đất bồi ngày nay.
Như vậy thì cách đây khoảng một trăm năm, vị trí bến Đông Bộ Đầu theo lịch sử đền Sơn Hải ghi chép lại khá trùng với vị trí được ghi trên văn bia tại chùa Hòe Nhai, mặc dù vẫn có sự sai số nhất định. Hơn nữa do là một bến sông có vị trí cực kỳ quan trọng trong kháng chiến chống quân Nguyên - Mông nên chắc hẳn bến sông này phải lớn và rộng hơn là sử sách ghi chép lại. Vậy thì, tư liệu mà văn bia chùa Hòe Nhai cũng như tư liệu đền Sơn Hải để lại đều có thể đúng.              

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Vua quan nhà Trần dùng 'mỹ nhân kế' để thắng địch

Công chúa An Tư là con gái út của vua Trần Thánh Tông, em gái vua Trần Nhân Tông. Không rõ năm sinh và năm mất của bà. Hầu hết các sử sách đều chép bà là công chúa An Tư, duy chỉ có sách Việt sử tiêu án chép là công chúa Thiên Tư.

Ngày ấy, vào đầu tháng 2 năm Ất Dậu (1285), sau nhiều lần vua Nguyên Hốt Tất Liệt sai sứ sang buộc vua Trần phải sang chầu, nếu vì lý do chính đáng nào đó không sang chầu được thì phải đưa vàng bạc châu báu sang thay và phải nộp hiền sỹ, thầy âm dương bói toán, thợ khéo tay, mỗi hạng hai người. Yêu sách của vua Nguyên không được vua Trần đáp ứng, vì thế vua Nguyên phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, sai Thái tử Thoát Hoan đem đại binh đánh tới Gia Lâm, vây hãm kinh thành Thăng Long, khiến Thượng hoàng Trần Thái Tông và vua Trần Nhân Tông phải di tản chiến lược bằng thuyền nhỏ ra vùng Tam Trĩ, còn thuyền ngự thì ra vùng Ngọc Sơn để đánh lạc hướng giặc, nhưng quân Nguyên vẫn phát hiện ra.
Ngày 9/3/1285, thủy quân giặc Nguyên bao vây Tam Trĩ, suýt bắt được hai vua Trần, trong khi tướng Trần Bình Trọng lại lâm trận, dũng cảm hy sinh ở bờ sông Thiên Mạc. Trước thế giặc mạnh và tấn công như vũ bão, nhiều tôn thất nhà Trần như Trần Kiện, Trần Nhượng và Hoàng thân Trần Ích Tắc... mang gia quyến chạy sang trại giặc. Bấy giờ tướng Trần Khắc Chung được sai đi sứ để làm chậm tốc độ tiến quân của giặc nhưng không có kết quả. Trong lúc đó, cần phải có thời gian để củng cố lực lượng, tổ chức chiến đấu phản công, kế sách đối phó hữu hiệu nhất là "mỹ nhân kế".
Bởi vậy, vua Trần Thánh Tông bất đắc dĩ phải dùng đến sắc đẹp tài hoa tuyệt vời của người con gái út yêu quý của mình là công chúa An Tư. Vì nước, vì hiếu nghĩa, công chúa An Tư vâng lệnh vua cha và vua anh dũng cảm đi vào trận chiến chỉ có một mình, không một thanh gươm, không một tấc sắt.
Công chúa An Tư sang trại giặc không phải với tư cách đi lấy chồng mà là vật cống nạp, cũng còn là một người nội gián... Sau đó nhà vua Trần bắt đầu phản công hầu khắp các mặt trận khiến cho quân giặc Nguyên đại bại, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn qua bên kia biên giới. Không rõ trong các cuộc hỗn chiến ấy, việc sống chết của công chúa An Tư thế nào?
Tại sách An Nam chí có chép rằng: "Trước Thái tử (Thoát Hoan) lấy người con gái nhà Trần sinh được hai con...". Phải chăng người con gái họ Trần này là An Tư? Chưa có chứng cứ rõ ràng khẳng định định điều ấy, nhưng dù triều Trần và sử sách có quên sự cống hiến của nàng cho đất nước và dân tộc thời chống ngoại xâm, thì các thế hệ muôn đời sau vẫn mãi mãi dành cho nàng chỗ đứng kính trọng và thương cảm trong lòng dân tộc. Khoảng trống lịch sử đó sẽ được lấp đầy bằng tình cảm tôn kính của các thế hệ mai sau.
Hiện sử sách cũng không có tài liệu nào viết về sự sống sót của công chúa An Tư. Nhưng vụ việc trên, giả sử An Tư trở về và làm đơn tố giác những người đã ép nàng phải theo giặc thì cơ quan chức năng phải vào cuộc điều tra làm rõ. Nếu trong quá trình điều tra có phát hiện ra sai phạm thì phải xử lý đối tượng ấy.
Việc dùng kế sách "mỹ nhân kế" của những nhà cầm quân thời xưa là một việc làm ngoài mong muốn.

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

Chuyện anh em vua Trần Thái Tông hoán đổi vợ chồng

Lý Chiêu Hoàng, là vị vua thứ 9 và là cuối cùng của nhà Lý, từ năm 1224 đến năm 1225, đồng thời là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Việt Nam.Bà là con thứ của vua Lý Huệ Tông, sinh tháng 9 năm Mậu Dần (1218), tên húy là Phật Kim, sau đổi là Thiên Hinh, tước hiệu là Chiêu Thánh công chúa. Mẹ bà là Trần Thị Dung. Chị gái là công chúa Thuận Thiên, cả hai chị em bà sau này đều có thời là hoàng hậu của Trần Thái Tông.

Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 5, tờ 9b và tờ 10 a-b) có chép một câu chuyện xảy ra vào năm Đinh Dậu (1287) như sau: "Bấy giờ, Chiêu Thánh (hoàng hậu của Thái Tông - ND) thì không có con mà Thuận Thiên (chị ruột của Chiêu Thánh, vợ của Trần Liễu là anh ruột vua Trần Thái Tông - ND) thì đã có thai Quốc Khang được ba tháng. Trần Thủ Độ và công chúa Thiên Cực (nguyên hoàng hậu của vua Lý Huệ Tông, sau gả cho Trần Thủ Độ- ND) bàn kín với vua là nên mạo nhận lấy để làm chỗ dựa về sau.
Vì thế, Liễu hợp quân ra sông Cái làm loạn. Vua lấy làm áy náy trong lòng, ban đêm ra khỏi kinh thành, chạy đến chỗ quốc sư Phù Vân là bạn cũ, trên núi Yên Tử rồi ở luôn tại đó. Hôm sau, Thủ Độ dẫn các quân đến mời vua trở về kinh sư. Vua nói: "Trẫm vì non trẻ, chưa cáng đáng nổi sứ mạng nặng nề, phụ hoàng lại vội lìa bỏ (chỉ việc Trần Thừa mất năm 1284 - ND), sớm mất chỗ trông cậy nên không dám giữ ngôi vua, sợ làm nhục đến xã tắc".
Thủ Độ cố nài xin nhiều lần vẫn chưa được, mới bảo với mọi người rằng: "Xa giá ở đâu tức là triều đình ở đó". Nói rồi, cắm nêu trong núi, chỉ chỗ này là điện thiên An, chỗ kia là Đoan Minh Các, sai người xây dựng. Quốc sư thấy thế liền tâu rằng: "Bệ hạ nên gấp quay xa giá trở về, chớ để làm hại núi rừng của đệ tử".
Vua bèn trở về kinh đô. Được hai tuần, Liễu tự lượng thế cô khó lòng địch nổi, bèn ngầm đi thuyền độc mộc, giả làm người đi đánh cá để đến chỗ vua xin hàng. Anh em nhìn nhau, khóc lóc. Thủ Độ nghe tin đến thẳng thuyền vua, rút gươm thét lớn: "Giết thằng giặc Liễu!"
Vua giấu Liễu trong thuyền rồi vội bảo Thủ Độ: "Phụng Càn Vương (tước hiệu cũ của Trần Liễu, khi Trần Liễu còn làm quan cho nhà Lý) đến hàng đấy". Nói rồi, lấy thân mình che chở cho Liễu. Thủ Độ tức lắm, ném gươm xuống sông mà nói rằng: "Ta chỉ là con chó săn thôi, biết anh em các người thuận nghịch thế nào mà lường được". 
Vua nói anh em hòa giải và bảo Thủ Độ rút quân về. Vua lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng và Yên Bang (nay là đất hai huyện Đông Triều và Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh - ND) để cấp cho Liễu làm ấp thang mộc. Nhân tên đất được phong mà Liễu có tên hiệu là Yên Sinh Vương (cũng đọc là An Sinh Vương - ND).
Phan Phu Tiên (là nhà biên khảo, nhà sử học, và là thầy thuốc Việt Nam ở đầu thời Nhà Lê sơ) nói: "Tam cương ngũ thường là luân lí lớn của loài người. Thái Tông là ông vua khai sáng cơ nghiệp, đáng lẽ phải dựng phép tắc  để truyền lại cho đời sau, lại nghe mưu gian của Thủ Độ, cướp vợ của anh làm hoàng hậu, chẳng phải là bỏ cả luân thường, mở lối dâm loạn đó ư? Liễu từ đó sinh ra hiềm khích, cả gan làm loạn, ấy là bởi Thái Tông nuôi nên tội ác cho Liễu vậy". Còn Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: "Thái Tông mạo nhận con của anh làm con mình. Sau này Dụ Tông và Hiến Từ (hoàng hậu) đều cho (Dương) Nhật Lễ làm con của Cung Túc vương, đến nỗi cơ nghiệp nhà Trần suýt nữa sụp đổ, há chẳng phải là không có ngọn nguồn của nó hay sao?".
Luật nay: Vi phạm chế độ một vợ một chồng
Chuyện hoán vợ đổi chồng này đã để di hại rất lớn về sau, nếu không có con Trần Liễu là Trần Hưng Đạo sáng suốt hơn người thì mối nguy thật khó mà lường trước được. Mới hay, luân thường không giữ, khó mà giữ an nguy cho xã tắc.
Câu chuyện đó, ai cũng cho rằng là một việc làm sai trái về mặt đạo đức, thậm chí, chiếu theo các quy định của pháp luật ngày nay thì hành vi đó đã vi phạm vào Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng được quy định tại Điều 147 BLHS như sau: "Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm".
Cũng Tại Mục 3 Thông tư liên tịch số 01/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC của bộ Tư pháp - bộ Công an - Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 25/9/2001 đã quy định: "Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó...". Tuy nhiên, để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố.
TƯỜNG LINH

Bí mật, bức ảnh lạ về Phật Hoàng xôn xao ở Yên Tử

Ngay khi đặt chân đến đất Yên Tử, chúng tôi đã nghe thấy người dân nơi đây xôn xao về một bức ảnh lạ được chụp được cảnh mắt Phật Hoàng phát sáng và khói hương tỏa hình rồng. Để làm rõ thực hư, chúng tôi dừng lại lâu hơn ở chân tháp Huệ Quang (người dân Yên Tử vẫn gọi là Tháp Tổ) để gặp người đang lưu giữ bức ảnh này như một báu vật của mình.

Phật Hoàng “hiển linh”!?
 
Bà Đinh Thị Nhẩu (quê ở xã Phả Lễ, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng) đến làm công quả ở Yên Tử từ hơn 20 năm trước. Ban đầu, bà làm ở chùa Một Mái, sau chuyển xuống chùa Làn. Giúp việc tại chùa Làn được 1 năm thì sư trụ trì Yên Tử hỏi bà muốn lên trông nom Tháp Tổ không. Bà cũng suy nghĩ nhiều vì Yên Tử ngày đó còn hoang sơ lắm, ở một mình trên đó bà cũng thấy lo nhiều hơn. Thế rồi, như được trời Phật xui khiến, bà gạt qua mọi nỗi sơ hãi để quyết định một mình lên Tháp Tổ. Bà Nhẩu năm nay đã 81 tuổi, chính là nhân vật của câu chuyện Phật Hoàng hiển linh và khói hương tỏa hình rồng 5 năm về trước. Dường như cảm xúc vẫn còn nguyên trong tâm trí, bà bắt đầu quay ngược thời gian bằng giọng kể rất hào hứng.
 
Bức ảnh có khói hình rồng và mắt Phật Hoàng phát sáng.
 
Vào ngày giỗ lần thứ 700 của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, lễ hội được tổ chức trang trọng lắm nên bà Nhẩu cũng bận rộn hơn với công việc giữ gìn vệ sinh cho Tháp Tổ, nơi lưu giữ xá lị của Người. Khoảng hơn 10h, bà đang ngồi trông Tổ Tháp thì có một người đàn ông ghé vào nói chuyện và muốn nhờ bà thắp hương, cúng lễ giùm. Công việc này bà vẫn thường làm nên không ngần ngại gì. Trong lúc gia chủ sắp lễ, bà hỏi chuyện và được biết người ấy chính là người đã công đức vào chùa Hoa Yên 3 vị tượng Phật và 1 bà Chúa Thượng Ngàn cách đấy không lâu. Hôm ấy họ đến chỉ để thành tâm làm lễ giỗ Phật Hoàng và thăm chùa Hoa Yên, nơi họ đã cung tiến tượng Phật. “Ở đất Phật này gặp được người có tâm như vậy chúng tôi quý lắm, cứ như gặp người quen thân từ bao nhiêu năm rồi ấy” – bà Nhẩu chia sẻ.
Rồi bà lại kể tiếp: “Sau khi gia chủ sắp xếp xong, lễ cũng chỉ đơn giản là hoa quả, nải chuối thôi, tôi liền rút 3 nén hương ra châm và cúng lễ như bình thường. Cúng xong tôi về lại bàn đón tiếp cách đấy không xa ngồi nghỉ ngơi. Nhưng tự nhiên, như có một linh tính nào đấy thúc đẩy, tôi rời khỏi ghế ra khu vực hành lễ. Lúc này gia chủ của khóa lễ vẫn đang mải mê chiêm ngưỡng những dấu ấn của Tháp Tổ quanh đấy. Tôi bàng hoàng khi tự nhiên thấy ánh mắt của tượng Phật Hoàng tỏa sáng". Tôi hét rất to:“Phật Hoàng hiển linh, Phật Hoàng hiển linh. Người về với chúng ta rồi”. Mọi người quanh khu vực nghe tiếng hô lớn liền đổ xô về xem rất đông. Ai cũng ngỡ ngàng trước hình ảnh đang hiện rõ mồn một trước mắt. Cùng lúc đó, tôi thấy khói hương nghi ngút trên bàn thờ tỏa thành hình thù rất đặc biệt như hình con rồng. Hình ảnh rất rõ nét, nhìn là thấy ngay chứ không cần tưởng tượng gì hết”.
Bí mật sau bức ảnh lạ về Phật Hoàng xôn xao ở Yên Tử 2
Anh Nguyễn Đức Thanh, tác giả bức ảnh lạ.
Giải mã bức ảnh lạ
Khói hình rồng là khoảng khắc ngẫu nhiên
Ông Trần Mạnh Thường (phó trưởng ban Lý luận phê bình nhiếp ảnh, Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam) nhận xét: Về hình ảnh khói hương tỏa hình rồng, tôi có thể lý giải rằng, bức tượng nằm trong một cái tháp, đằng sau tượng là vòm, khói hương gặp gió thì quần hội chứ không bay thẳng ra ngoài trời. Đây chỉ là một sự tự nhiên, ngẫu nhiên mà có. Bức ảnh chụp đúng lúc có khói hương tạo hình rồng, cho chúng ta cảm giác như rồng đang bay, lại thêm đôi mắt tượng Phật phát sáng nên có thể coi đây là một “khoảnh khắc nhiếp ảnh”.
Hình ảnh rồng thì hoàn toàn có thể coi là ngẫu nhiên vì nhiều đám mây trên trời cũng tích tụ thành các hình ảnh gần gũi với đời sống. Chúng ta có thể hiểu đơn giản rằng, khi hơi nước bốc hơi, gặp những cơn gió, chúng sẽ tự tập hợp lại thành các hình thù khác nhau. Ở đây, khói hương hình rồng này cũng vậy, hoàn toàn có thể tự nhiên mà tạo thành.
Sau nhiều kênh tìm kiếm, chúng tôi cũng đã tìm ra tác giả bức ảnh chụp mắt Phật Hoàng tỏa sáng và khói hương hình rồng. Anh là Nguyễn Đức Thanh, từng là chủ tịch HĐQT của Tập đoàn Phúc Thanh. Anh Thanh bảo, cuộc đời anh, kể từ ngày chụp được hình ảnh này đã hoàn toàn bước sang một hướng khác. Anh Thanh nhớ lại, vốn đam mê chụp ảnh nên tối trước ngày giỗ Phật Hoàng, anh đã tìm mua được chiếc máy ảnh ưng ý nhãn hiệu Leica M6 của Đức, chụp bằng phim nhựa. Tuy nhiên, anh Thanh không phải là người duy nhất chụp được khoảnh khắc kỳ diệu này bởi hôm xảy ra hiện tượng mắt Phật Hoàng phát sáng và khói hương hình rồng, khu Tháp Tổ có khoảng 20 người chứng kiến.
Sáng ngày giỗ Phật Hoàng, được một vị sư ở Yên Tử nhờ trang hoàng Tháp Tổ chuẩn bị cho lễ giỗ, anh Thanh trực chỉ đến thẳng tháp Huệ Quang. Ngay khi đến nơi, gần như ngay lập tức, anh lạnh sống lưng vì thấy mắt Phật hoàng phát sáng. Vội vàng lôi chiếc máy ảnh Leica M6 vẫn đang đeo trên cổ, anh chụp liên tục 4 bức hình. Không yên tâm với chiếc máy ảnh mới, anh Thanh lấy chiếc máy ảnh kỹ thuật số mang theo dự phòng ra chụp liên tục thêm hàng chục bức ảnh nữa. Khi thầy Thích Thanh Quyết thấy được hình ảnh tượng Phật Hoàng phát sáng trong máy ảnh kỹ thuật số của anh Thanh đã đề nghị anh rửa 500 bức ảnh để tặng cho nhân dân vào ngày mai, ngày khai hội Đại lễ Phật Đản.
Xem lại các bức ảnh, anh Thanh ngạc nhiên khi các đốm sáng đổi chỗ vài lần trong Tháp Tổ. Ban đầu, 2 đốm sáng xuất hiện ở 2 mắt tượng và 1 đốm sáng trên tường. Sau đó, chỉ còn 1 đốm sáng ở giữa trán (huệ nhãn) tượng, còn 2 đốm trên tường. Ở bức ảnh khác lại thấy 2 đốm sáng ra tận gần cuối chân mày, 1 đốm sáng vẫn ở trên tường. Thấy hiện tượng lạ, anh Thanh bắt đầu đi tìm lời giải thích khoa học cho các bức ảnh. Nhìn bàn thờ của Tổ Phật, anh ngạc nhiên vì khi thấy có 3 chén nước dâng lên Ngài (bình thường không thấy có). Đúng 11h, khi mặt trời xuất hiện thì phương vị mặt trời chiếu thẳng vào chén nước đã phản chiếu lên tượng Phật Hoàng làm ra những đốm sáng kia. Vì mặt trời liên tục chiếu theo các phương khác nhau nên đốm sáng có những thay đổi nhất định như hình ảnh anh Thanh đã chụp được. 
Còn về 4 tấm ảnh được chụp bằng máy Leika, sau khi rửa ra có thể nhìn rất rõ hình ảnh khói hương cuộn lại thành hình rồng. Không thể giải thích được hiện tượng này nên anh Thanh chỉ có thể cho rằng “đây là một sự hòa hợp hoàn toàn ngẫu nhiên”. Kể từ khi chụp được khoảnh khắc này, anh Thanh đã rửa cả ngàn bức ảnh để tặng cho những người có duyên và muốn có linh ảnh này. Cũng từ thời điểm đó, Đức Thanh đã trở thành một con người khác khi quyết định rút ra khỏi công việc kinh doanh để tìm hiểu và tu luyện Phật pháp bởi anh cho rằng, việc chụp được những bức ảnh quý trên là “duyên lành” của anh với cửa Phật từ bi.
Trao đổi với PV, sư thầy Thích Khai Bi (Yên Tử) cho biết: “Tôi không được tận mắt chứng kiến hiện tượng lạ này nên ban đầu, khi nhìn thấy bức ảnh, tôi nghĩ có thể bức ảnh đã được photoshop. Nhưng một thời gian sau, khi nhiều người khác chụp thêm những hình ảnh ở suối Giải Oan, người ta cũng nhìn thấy nhiều đốm sáng bảng lảng bay quanh suối như ánh mắt tượng Phật Hoàng phát sáng thì tôi tin chắc chắn bức ảnh kia là có thật. Còn hình ảnh khói hương tỏa hình rồng có thể chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên bởi vẫn có rất nhiều hình ảnh tự nhiên rất giống một hình thù nào đó trong cuộc sống này”.
Mắt tượng phát sáng không phải sản phẩm photoshop
Một giảng viên của khoa nhiếp ảnh (Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh) bình luận: Nếu tác giả chụp được bức ảnh ngẫu nhiên này thì quá tuyệt vời. Để ý kỹ một chút, ta sẽ thấy tượng được làm bằng xi măng, không thể có sự phản xạ ánh sáng. Kể cả nếu chũng ta cố tình chiếu đèn vào thì cũng không thể sáng như thế này được. Bởi nếu có sự phản xạ ánh sáng ở đây thì sẽ phải sáng cả khuôn mặt, không thể chỉ sáng 2 con mắt được. Hơn nữa, cái sân ở trên Tháp Tổ cũng không thể hắt sáng được. Không cần quan sát kỹ thì ta cũng thấy góc ảnh này nhìn rất thẳng, chưa bao giờ ánh sáng hắt lại trực diện như thế. Do vậy, đốm sáng này không thể do sự phản xạ ánh sáng mà cấu thành nên. Hoặc giả như có sự phản xạ ánh sáng thì ở đây, khi ánh sáng hắt từ dưới lên, đốm sáng sẽ phải nằm ngay dưới đường lông mày, không thể nằm ở đôi mắt được.

Linh ứng lạ trong lễ cầu siêu và tụng kinh niệm Phật

Nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã: "Tôi xin khẳng định, cầu siêu như vậy giúp đỡ được rất nhiều, cho nhiều thế giới khác nhau."
Một lần, chúng tôi tổ chức đại lễ cầu siêu ở Bến Tre, hôm đó gió rất lớn. Cạnh hội trường có một cây sứ rất cao to. Khi vị đại đức đọc kinh, cái cây ấy cứ nghiêng dần về phía ngược chiều gió rồi bật gốc đổ rầm xuống nơi ông đang đứng trong sự ngạc nhiên, lo sợ của những người dự khán. Tôi giải thích với họ rằng, không phải sợ hãi. Đó là tín hiệu cho thấy hàng ngàn hàng vạn vong hồn về dự khán. Lần khánh thành Bệnh xá Đặng Thùy Trâm ở Quảng Ngãi cũng vậy, mưa như trút nước khiến buổi lễ sẽ khó thực hiện đúng giờ. Có người ra chân tượng chị phát tâm xin ngưng mưa và thật kỳ lạ, cơn mưa nhỏ dần sau đó thì ngớt hẳn. Buổi lễ diễn ra đúng giờ suôn sẻ, ngay sau buổi lễ, trời lại tiếp tục mưa. Những trải nghiệm cho tôi hiểu rằng anh linh những người đã khuất vẫn tồn tại, sẵn sàng lắng nghe và đã thấu tỏ tấm lòng người sống
Năm 2005, miền Trung tan tác sau cơn bão số 7. Chưa kịp hoàn hồn thì đã có tin cơn bão số 8 sức gió mạnh hơn sẽ tràn vào bờ biển sau 3 ngày nữa. Các đồng nghiệp miền Trung gọi vào cho tôi than thở: “Dân miền Trung khổ quá rồi. Có cách nào xin thôi bão được không”. Tôi nói, xem có vị lãnh đạo nào thành tâm cùng anh em ăn chay, cầu nguyện và nhờ chùa gióng chuông trì chú cầu nguyện ngay trong ngày, chắc trời đất thấu hiểu. Họ làm theo, và như một phép mầu, cơn bão ấy chuyển hướng không vào đất liền nữa, các nước đặt tên là cơn bão “Con bò rừng”.
Tôi nhớ nhất kỷ niệm một lần ở Côn Đảo là vì đoàn người năm ấy muốn vào nghĩa trang để thắp nhang cầu nguyện. Thế nhưng, không hiểu sao người quản trang nhất quyết không cho đoàn vào bên trong. Thấy lạ quá, tôi phát tâm tìm câu trả lời. Nhiều vong hồn ở nghĩa trang nói với tôi rằng: “Chúng tôi ở đây, quanh năm người thăm viếng hương khói rất nhiều. Còn nhiều anh em, đồng bào ta nằm giữa biển khơi. Xin hãy cứu giúp họ trước”.
Đêm hôm đó, chúng tôi lập hương án trên bờ biển cầu siêu. Một cảnh tượng lạ lùng diễn ra. Càng tụng kinh đến đâu, những vệt màu lạ bay lên đến đó. Hàng chục ngàn vong hồn hàng hàng lớp lớp vỗ tay hạnh phúc, một không khí hoan vui bao trùm. Hôm sau, chúng tôi vào lại nghĩa trang thì đã thấy người quản trang đợi sẵn, tay bắt mặt mừng hoan hỉ mời vào. Ông không hề nhớ chuyện xảy ra hôm trước, tuồng như có vong hồn liệt sĩ bên trong nghĩa trang nhập vào, bắt ông phải làm như vậy.
Nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã cùng các đồng sự trong hành trình lên đỉnh Fansipan.
Một lần chúng tôi cầu siêu ở Lào Cai thì có rất nhiều vong hồn lính phía Trung Quốc nhờ cứu giúp. Cả đoàn phải nhờ người qua bên kia, tìm một ngôi chùa cầu nguyện để gửi linh hồn họ vào đó. Người trải nghiệm tâm linh nhiều như chúng tôi đều nhận thấy trong thế giới ấy cũng có những cơ duyên kỳ lạ, những điều kỳ diệu, hấp dẫn chưa nhiều người chạm tới. Những năm tháng tìm mộ, có những trường hợp tôi nhớ mãi. Ví dụ như: Mộ liệt sĩ tên Hoa thì tìm thấy trên đất bà Nở (Hoa nở), hoặc hài cốt liệt sĩ Đức ở trên đất ông Đạo (Đạo Đức)...đó là những cơ duyên thú vị như thế. Lại nhớ, lúc tìm ra mộ của một tỉnh ủy viên ở nghĩa trang.
Lãnh đạo tỉnh tất tả có ý dời mộ ông lên hàng đầu, cao nhất nghĩa trang. Hồn ông tỉnh ủy viên nhập vào con trai nói rằng: “Hãy để tôi nằm yên cùng anh em, đồng đội”. Lãnh đạo tỉnh hầu như lần đầu gặp phải một hiện tượng tâm linh lạ lùng và thiêng liêng như vậy, ai cũng ngỡ ngàng. Cuối cùng, họ quyết định làm theo di nguyện của người đã khuất.
Và ánh linh Phật pháp
Suốt những năm tháng hoạt động ngoại cảm và cả về sau này, điều mà tôi luôn trăn trở cùng bạn đọc là làm sao để vong hồn siêu thoát về những cảnh giới tốt đẹp hơn? Hàng chục năm như người tìm đường, tôi đã tìm ra “kho báu” mang tên: Phật pháp. Phật pháp ở nước ta cũng đã có lịch sử lâu đời và sức cuốn hút không cần phải khẳng định lại.Còn tôi nhận thấy đường tu ắt phải thú vị và hấp dẫn lắm. Mỗi lần nhìn tượng đức Phật đều toát lên niềm an vui tự tại.
Lần tôi theo đoàn lên núi Trúc Lâm Yên Tử, một vị tổng giám đốc trong đoàn lần đầu biết đến sự tích vua Trần Nhân Tông đi tu lập nên Thiền phái này, ông cảm phục và nhận ra tu theo Phật pháp không phải cực khổ hành xác mà là nơi đạt đến vui sướng, hạnh phúc thực sự. Ông về ăn chay niệm phật luôn từ đó. Riêng tôi đi nhiều nơi và gặp nhiều người mới thấy rằng: Làm một người đứng đầu đơn vị mà hướng tâm thực hành Phật pháp thì không chỉ giúp mình mà còn giúp được nhiều người dưới mình. Giám đốc một doanh nghiệp tôi vừa gặp kể rằng ông niệm phật ăn chay trường nhiều năm qua. Trong khủng hoảng kinh tế, doanh nghiệp ông vẫn làm ăn ổn định, đơn hàng đến đều đặn. Ông coi đó là nhờ ánh sáng Phật pháp soi đường.
Một số vị lãnh đạo, chủ doanh nghiệp khác vốn là chỗ quen thân với tôi nhiều năm trước bị bệnh nan y đi chạy chữa ở khắp nơi trong và ngoài nước nhưng không thuyên giảm đã hỏi tôi còn giải pháp nào không về mặt tâm linh ? Tôi trả lời, bệnh của họ chỉ có trời Phật cứu, nếu tin vào tâm linh hãy thành tâm ăn chay niệm Phật.. Thật kỳ lạ, hầu hết họ nói khối u lúc trước to như trái chanh thì sau khi họ ăn chay, niệm Phật, hướng thiện đã dần dần nhỏ đi, teo dần. Một số rất vui mừng đã đi hẳn vào con đường tu.

Nhiều người hỏi tôi làm thế nào để thấy đức Phật hiển linh? Tôi cho rằng duyên đến và chỉ đến với người vững tin, kiên nhẫn. Lần tôi ở một ngôi chùa tại Đà Nẵng, cả đạo tràng đang trì chú thì mưa to. Thật kỳ lạ là nơi phật tử ngồi, bán kính chừng 10m không có mưa, không ai bị ướt. Có lần cầu siêu ở Nghệ An, hàng ngàn người dự, bỗng có ánh hào quang Đức Quán Thế Âm hiện ra trong không trung. Tôi và nhiều nhà ngoại cảm khác biết rằng những lúc như vậy, Bồ Tát đã hiển linh, đã thấu tỏ lòng người.
Trải nghiệm đáng nhớ nhất của tôi là lần cùng các nhà ngoại cảm khác thỉnh tượng đức thánh Trần và tượng Quán Thế Âm lên đỉnh Fansipan. Đường đi gian khổ mất 3 ngày 2 đêm từ Sapa mới lên tới đỉnh. Người Mèo dẫn đường lên đỉnh núi rất e ngại vì chưa thấy đoàn người cao tuổi nào đi. Lên được đỉnh Fansipan phải là người trẻ, còn phải rèn luyện thể lực hai tháng mới đi được. Đoàn người hôm đó chỉ có sức mạnh là ý chí và niềm tin, cuối cùng cũng lên được đỉnh. Đỉnh núi âm u, mây phủ, điều kiện áp suất thấp rất khó thở, buồn nôn khiến người thường chỉ nán lại 15 phút rồi quay về. Tôi cùng 7 nhà tâm linh khác đi đến một quyết định táo bạo: Ở lại một đêm tụng kinh tĩnh tâm cầu nguyện trên đỉnh núi. Thật kỳ lạ, dù đã lớn tuổi nhưng không ai hề hấn gì.
Trước khi đi một tuần tất cả đều ăn chay. Mấy ngày leo núi cũng chỉ ăn chay nhưng ai cũng khỏe mạnh lạ thường. Đến sáng, đoàn người tiếp tục trì chú niệm Phật thì bỗng thấy mặt trời mọc. Có vài người trong đoàn đều cảm nhận tín hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát hiển linh. Vì trên đỉnh núi ấy rất hiếm khi nhìn thấy mặt trời. Chợt nhớ lời thầy Huyền Diệu rằng Fansipan là một trong những ngọn núi linh thiêng nhất thế giới, một Kailash của Việt Nam, quả đúng không sai.
Còn nhiều câu chuyện khác không thể kể hết. Tựu trung lại, thế giới tâm linh bao la và rộng lớn, có những cõi giới cao hơn thế giới con người đang sống rất nhiều. Không có trợ lực từ các thế giới ấy, con người khó nhận ra giá trị của cuộc sống. Tâm linh là hành trình đưa con người đến với những điều tốt đẹp, cho con người chúng ta một tâm thế sống và xa hơn nữa là một tâm thế khi rời xa thể phách này. Nếu nhận diện được điều ý nghĩa kỳ diệu này là đã đến được với điểm xuất phát của hành trình thiêng liêng đó rồi.
“Người nào đặt tâm linh cao hơn vật chất tức là đã gieo mầm hạnh phúc. Chinh phục con người bằng tâm linh tức là đã mang đến hạnh phúc. Tâm linh là một “vũ khí”. Nơi nào tâm linh mạnh, ở đó có chiến thắng và sự trường tồn”.- Hòa thượng Thích Huyền Diệu.
Theo Kiến thức

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

Kết cục bi thảm của kẻ vu cáo người khác tội làm phản

Dã sử .....................

Liên quan đến Trần Quốc Chẩn con thứ của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Sử chép lại rằng, Quốc Chẩn có con gái là Hoàng hậu của vua Trần Minh Tông (1314 - 1329).

Vào cung đã lâu nhưng vị Hoàng hậu này mãi vẫn chưa có con trai. Điều này khiến ngôi Thái tử bỏ trống, nhiều kẻ lăm le có ý muốn lập con thứ của Trần Minh Tông. Đây chính là căn nguyên xảy ra một vụ án mạng lớn gây chấn động vương triều Trần.
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (chính biên, quyển 9, tờ 26) đã chép lại đầu đuôi vụ án này như sau: "Trước đây, Thượng hoàng (chỉ Trần Anh Tông - ND) vẫn trông mong nhiều vào Quốc Chẩn, muốn phó thác nhà vua (chỉ Trần Minh Tông) cho ông. Đến lúc Thượng hoàng bị bệnh, mỗi khi nhà vua vào thăm, Thượng hoàng bắt phải cùng đi với Quốc Chẩn để khỏi sinh lòng hiềm nghi.
Đến đây nhà vua tuổi đã nhiều mà chưa quyết định được ngôi Thái tử. Quốc Chẩn tự nhận mình là cố mệnh đại thần, lại là bố đẻ Hoàng hậu, nên cố chấp là đợi khi nào Hoàng hậu sinh con trai trưởng sẽ lập làm Thái tử. Văn Hiến Hầu (con của Trần Nhật Duật, không rõ tên) muốn đánh đổ Hoàng hậu để lập Hoàng tử tên là Vượng, bèn lấy 100 lạng vàng đút lót cho gia thần của Quốc Chẩn là Trần Phẫu, xúi Trần Phẫu vu cáo Quốc Chẩn âm mưu làm phản.
Nhà vua tin lời Trần Phẫu, bắt Quốc Chẩn giam ở chùa Tư Phúc, rồi đem việc ấy hỏi thiếu bảo Trần Khắc Chung. Khắc Chung vốn cùng bè đảng với Văn Hiến Hầu, lại là người cùng làng với mẹ đẻ của Vượng (bà Minh Từ Thái phi, người họ Lê, quê ở Giáp Sơn), hơn nữa, Khắc Chung từng giữ chức Sư phó để dạy Vượng, vì thế, Khắc Chung liền tâu ngay bằng câu thành ngữ "tróc hổ dị, phóng hổ nan -bắt hổ dễ, thả hổ nguy!. Nhà vua bèn cấm tuyệt không cho Quốc Chẩn ăn uống, bắt phải tự tử. Hoàng hậu phải thấm nước vào áo đưa đến cho uống. Quốc Chẩn uống xong thì mất. Những người bị bắt lây lên đến hơn hai trăm, khi tra hỏi, ai cũng kêu gào là oan.
Về sau, vợ cả, vợ lẽ của Trần Phẫu ghen nhau, đem việc Văn Hiến Hầu đút lót vàng ra tố cáo. Nhà vua giao việc này cho quan giữ việc Hình ngục là Lê Duy xét hỏi. Lê Duy là người cương trực, lập tức tra xét ngay. Trần Phẫu phải tội lăng trì, nhưng chưa kịp hành hình thì gia nô của Thiệu Vũ (con Quốc Chẩn) đã xẻo thịt Trần Phẫu ăn sống gần hết. Văn Hiến Hầu tuy được tha tội chết, nhưng giáng làm thứ dân, tước bỏ tên họ trong hoàng tộc".

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

Thứ Ba, 30 tháng 4, 2013

Thử lật lại “vụ án” Trần Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý


BẠN ĐỌC PHẢN HỒI - COMMENT (2)
Nguyễn Văn Trinh
Lịch sử thường phản ảnh thực tại khách quan, nhưng tùy từng lúc, từng thời điểm có sự chỉ đạo tác động từ nhà cầm quyền. Để làm rõ những điểm chưa thỏa mãn của lịch sử cần phải có hội thảo chuyên ngành mới có thể kết luận được. Dù sao cũng cám ơn nhà báo Hoàng Hải Vân !
hoàn - Hà Nam
rất cảm ơn tác giả bài viết này. Tôi rất thích lịch sử và cũng rất thích nhân vật Trần Thủ Độ. Tôi nghĩ ông có công nhiều hơn là tội và dù thế nào thì đó cũng là sứ mệnh mà lịch sử đã trao cho ông và ông đã làm rất tốt vai trò của mình.

CÓ MỘT ĐỀN TRẦN Ở NINH BÌNH


Nằm trong khu vực Quần thể danh thắng hang động Tràng An (Ninh Bình) có 3 điểm du lịch tâm linh nổi tiếng, gồm chùa Bái Đính, đền Trình và đền Trần. Nhưng ít ai biết, đền Trần từng có một tên khác gắn liền với một truyền thuyết li kỳ: Vũng máu (Đền vụng Thắm).
Đền Trần nhìn từ chính diện. Ảnh: M.d
Đền Trần nhìn từ chính diện. Ảnh: M.d.
Sắc sảo và độc đáo
Khoảng 2 giờ đồng hồ lênh đênh trên chiếc thuyền lá, đi qua chín cửa hang, trèo qua ngọn núi dựng đứng chừng 100 mét, chúng tôi tới được đền Trần.
Vừa đáp chân tới đền, chúng tôi gặp ông Trần Chu Thanh, quê ở xóm Đông (Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình), hiện là người trông coi ngôi đền cho biết: Sử sách chép rằng, ngôi đền này được xây dựng từ năm 968, tức là sau khi vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi Hoàng đế, lấy tên nước là Đại Cồ Việt. Nơi đây thờ một vị tướng từ thời vua Hùng Vương thứ 18, tước hiệu là Thánh Quý Minh Đại vương, tên húy là Nguyễn Hiển, em song sinh với Nguyễn Sùng (thờ tại đền Và ở Sơn Tây).
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, đến nay ngôi đền này đã có tuổi 1.035 năm, nhưng nếu tính từ thời nhà Trần tiến hành tu sửa thì đến nay, ngôi đền có tuổi thọ 755 năm. Lễ hội đền Trần ở Ninh Bình diễn ra vào ngày 18/3 âm lịch hàng năm.
Theo truyền thuyết, Thánh Quý Minh Đại vương là một trong ba anh em - ba vị tướng đã được phong Thánh (Đức Thánh Tản Viên, Đức Thánh Cao Sơn, Đức Thánh Quý Minh). Vị này có công trấn ải Sơn Nam, bảo vệ đất nước thời vua Hùng Duệ Vương (tức vua Hùng thứ 18). Đền được vua Đinh xây dựng cùng 3 ngôi đền khác, với mong muốn mượn uy danh của Thánh Quý Minh để trấn trạch 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc.
Đến năm 1228, vua Trần Cảnh, tức Trần Thái Tông qua đây, người thấy ngôi đền bằng gỗ đã mục nát nên tiến hành tu sửa lại ngôi đền, vật liệu chủ yếu bằng đá, vì thế mới đổi tên là đền Trần. Sau khi dẹp quân Mông xâm lược (năm 1258), vua Trần Thái Tông đã vào đây tu hành.
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, đến nay ngôi đền này đã có tuổi 1.035 năm, nhưng nếu tính từ thời nhà Trần tiến hành tu sửa thì đến nay, ngôi đền cũng ngót 755 năm.
Các chi tiết tinh xảo được điêu khắc trên cột đá tại đền Trần. Ảnh: Minh Đức
Các chi tiết tinh xảo được điêu khắc trên cột đá tại đền Trần. Ảnh: Minh Đức.
Ông Thanh cho biết, hiện nay ngôi đền vẫn giữ được 12 cột đá, toàn bộ dầm, xà, ngưỡng cửa, ngạch, mái trên đều bằng đá. Người xưa đã tạc, đẽo toàn bộ hoa văn này từ đá xanh nguyên khối, lấy tại núi Nhồi (Thanh Hóa). Các mô típ hoa văn gồm bộ tứ linh (long, ly, quy, phượng), đặc biệt là “ông phượng” hiện vẫn đang trú ngụ thành bầy đàn ở khu vực này.
“Người xưa xây dựng ngôi đền là hoàn toàn từ tâm đức, trí tuệ, thế nên các hoa văn, chi tiết chạm trổ đều rất mềm mại, sống động, bay bổng, thể hiện sự tinh xảo và trình độ tuyệt kỹ của các nghệ nhân”, ông Thanh nói.
Vừa nói, ông Thanh vừa chỉ cho chúng tôi xem các hoa văn trên cột đá và giới thiệu tỉ mỉ như một chuyên gia: Ví dụ, ở cột thứ nhất bên phải đền có tạc hình ảnh “ông phượng” bay cao, bay xa, là biểu tượng cho thế thượng võ; miệng tung dải lụa đào và quyến thư, là biểu tượng cho thế thượng văn. Có thể hiểu cột này mang ý nghĩa “văn võ song toàn”, cầu công danh sự nghiệp.
Ở cột thứ hai, tuy “ông phượng” này nhỏ hơn, nhưng lại bay cao, bay xa, bay lên chín tầng mây, trên lưng điểm lại một áng mây hồng, mỏ cong, mắt sáng, miệng lại ngậm dải lụa đào và quyến thư biểu tượng cho lời ăn tiếng nói. Bên dưới là hình ảnh con rồng, đại diện cho quyền lực. Ly là đại diện cho sức mạnh. Còn quy đại diện cho sự trường tồn.
Chúng ta thấy ở đây là một tổng thể hòa quyện vô cùng mềm mại: rồng dáng hạ hút nước, ông rùa từ trong đầm sen ló ra, cá chép nở mình hóa long, cũng nhao theo dòng nước đi lên. Vì vậy người xưa mới có câu thơ: Mồng 5 cá đi ăn thề/Mồng 8 cá về cá vượt vũ môn. Câu thơ này cũng là điểm lại theo tích ngày 8/4 “Bụt sinh Bụt nở”, cũng là ý nguyện cầu cho mưa thuận gió hòa, trời yên biển lặng.
“Ở cột thứ ba, đây chưa hẳn là một tác phẩm điêu khắc hoàn mỹ, có thể thấy tuy “ông phượng” không lớn, nhưng được mô tả rất rõ nét. Hai cánh dang rộng, đầu ngẩng cao, đôi chân nhỏ chắc, thể hiện ý tứ “đầu đội trời, chân đạp đất”, tình nghĩa vua - tôi kết hợp thành một sức mạnh vô địch. Khi con người có đủ tiền tài sự nghiệp, đường công danh như ý, có sức khỏe thì sẽ đi tìm đến chân lý của cuộc sống. Điều này thể hiện rõ hơn ở cột thứ 4, là cột tinh túy hơn tất cả”, ông Thanh nói.
Ở cột này còn có hình ảnh dòng nước dáng hạ, ông rùa từ trong đầm sen ló ra, cá rô (chứ không phải cá chép) nở mình hóa rồng theo dòng nước đi lên, vì thế mà cổ nhân xưa đã lưu lại nơi đây câu ca dao cổ: “Dập dìu cánh hạc chơi vơi/Tiễn thuyền vua Lý đang rời kinh đô/Khi đi nhớ cậu cùng cô/Khi về lại nhớ cá rô Tổng Trường”. Loài cá tiến vua ấy nhiều người được nghe kể, nhưng không phải ai cũng biết, cũng được ăn.
Câu chuyện về vụng Thắm
Rời đền Trần, ông Thanh chỉ về cánh rừng nguyên sinh phía trước và cho biết: Khu rừng này rộng 54 héc-ta, là căn cứ địa của triều Đinh xưa kia. Theo lịch sử để lại, sau khi lên ngôi vào ngày 10/3/968, vua Đinh Tiên Hoàng đặt tên nước là Đại Cồ Việt, nhưng rất tiếc là vua Đinh chỉ tại vị được 12 năm.
Theo truyền thuyết đến 15/8/979, tên tiểu nhân gian thần Đỗ Thích đã dùng thuốc độc sát hại vua Đinh và con trai là Nam Việt Vương Đinh Liễn, lúc bấy giờ hậu cung trở thành loạn cung.
Tướng Phạm Bạch Hổ, một người trung thành với triều đình nhà Đinh đã mang hơn 1.000 quân về cánh rừng này ẩn dật với mục đích khôi phục lại binh mã, lương thảo, sau đó sẽ phục lại vị thế cho triều Đinh.
Tuy nhiên, nơi đây rừng sâu, quân yếu, lương mỏng, địch vây giáp 4 mặt, hai bên giao tranh quyết liệt, quân của Phạm Bạch Hổ không cầm cự được lâu và 1.000 quân sĩ đều thiệt mạng. Máu chảy ngập thung lũng, thế nên vụng nước quanh đền được gọi là vụng Thắm (vũng máu), ngôi đền cũng mang tên đền Thắm.
“Quân lính thiệt mạng, mỗi một nấm mồ, người ta đều cắm một cành si, vì vậy, 54ha rừng nguyên sinh này chủ yếu là si. Về sau, khi vua Trần Cảnh qua đây, người đọc trên bức đại tự thấy đề tên đền là vũng Thắm nên đã cho tu sửa và đổi tên thành đền Trần, để sau này lịch sử sẽ không còn lưu lại cái tên vũng Thắm đau thương nữa... Điều lạ lùng là những cây si do người dân trồng trên 1.000 nấm mồ đã mọc lan rộng, dính chặt vào nhau, thành một cánh rừng rậm rạp như ngày nay”, ông Thanh nói. Cũng theo ông Thanh, câu chuyện này chỉ là truyền thuyết, được ghi lại ở đền Trần.

Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013