Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2011

Hoằng dương tư tưởng cao đẹp của Phật Hoàng Trần Nhân Tông


Nhân sự kiện Trung tâm Unesco Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam trân trọng dâng bức tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông cho Open Minds Foundation và Đại học Harvard, Hoa Kỳ, Tuần Việt Nam đã phỏng vấn ông Ngô Văn Quán, giám đốc Trung tâm, về tư tưởng của Phật Hoàng cũng như ý nghĩa của việc dâng tượng này.

PV: Thưa ông Ngô Văn Quán, tại sao Trung tâm Unesco Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam lại dâng bức tượng Trần Nhân Tông chứ không phải một ông vua hay một đạo sư nào khác của Việt Nam?
Ông Ngô Văn Quán: Trần Nhân Tông là một ông vua hiển Phật, một nhân vật lịch sử vĩ đại, anh hùng dân tộc, nhà chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa kiệt xuất. Mới 20 tuổi, Ngài đã lên ngôi vua và hai lần đánh bại đại quân tàn bạo Nguyên Mông xâm lược Đại Việt. Nhưng chỉ tới năm 36 tuổi, Ngài đã truyền ngôi cho con để lên chùa sống đời cư sĩ. Năm 41 tuổi, Ngài chính thức vào núi Yên Tử, tu hạnh Đầu Đà và được giới phật tử tôn xưng là sư tổ của phái Trúc Lâm.
Đặc biệt, Ngài là một nhà tư tưởng lớn, vượt qua thời đại mình. Nhiều giá trị sâu sắc, đầy tính nhân văn của ngài ở tầm nhân loại, cho đến nay dường như vẫn chưa được phân định, nhận thức và tôn vinh một cách rõ ràng và đúng mức. Chính vì vậy, chúng tôi muốn tìm lại, phát triển và đưa tư tưởng của Ngài hoằng dương ra toàn thế giới.
PV: Ông nói Trần Nhân Tông để lại những tư tưởng ở tầm nhân loại, xin ông cho biết cụ thể tư tưởng đó là gì?
Ông Ngô Văn Quán: Hạt nhân tư tưởng Trần Nhân Tông là: Phật không phải ở đâu xa, không bí ẩn, diệu kỳ mà chính ở trong tâm, tâm thanh tịnh, tâm trong sáng, chính là chân Phật. Ngài giáo hoá cho nhân dân tu tại tâm, rèn đức, phát trí tuệ để thành người có ích cho xã hội, Phật là Đời, mà Đời là nghĩ và làm tốt cho hạnh phúc của mọi người, cho sự nghiệp cao cả bảo vệ, xây dựng mái nhà chung là Tổ Quốc.
Tư tưởng của Ngài được chưng cất đơn giản trong bài phú "Cư trần lạc đạo" nổi tiếng:
"Ở đời vui đạo, hãy tùy duyên,
Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền.
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối cảnh vô tâm, hỏi chi Thiền."
Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông
PV: Ông nói về việc hoằng dương tư tưởng đó của Ngài, Trung tâm đã làm những gì để hiện thực hóa ước mơ đó?
Ông Ngô Văn Quán: Một cách thành thực, hơn 10 năm qua, Trung tâm đã nỗ lực không mệt mỏi cho công cuộc này. Chúng tôi đã xây dựng mới chùa Vân Tiêu ở Yên Tử, thành lập và đưa vào hoạt độnghệ thống các Câu lạc bộ Trần Nhân Tông và Hội thiền Trần Nhân Tông ở cả trong nước và quốc tế, dâng tượng Trần Nhân Tông và hoằng dương tư tưởng của Người ra nhiều nước trên thế giới. Chúng tôi đã xuất bản gần 20 đầu sách, với hàng vạn cuốn, trong đó tập "Những điều dạy về Phật của Trần Nhân Tông", đã tái bản và tập Thơ "Vua Phật Trần Nhân Tông". Sự nghiệp này sẽ còn được tiếp tục phát triển rộng khắp và nhận được sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài. Trước mắt, nhân dịp kỉ niệm 703 năm ngày Phật hoàng viên tịch, Trung tâm sẽ cùng lúc tổ chức hai hoạt động quan trọng: Hội thảo khoa học "Trần Nhân Tông và Con đường Chính pháp" và lễ giỗ Người tại Hà Nội vào cuối tháng 11 năm 2011.
PV: Cụ thể việc đưa Ngài ra thế giới, Trung tâm đã tiến hành những hoạt động gì, thưa ông?
Ông Ngô Văn Quán: Trung tâm chúng tôi đã đưa tư tưởng và hình ảnh vị Vua Phật Việt Nam đến các nước qua sách, tạp chí và các sản phẩm văn hóa nói về Ngài; đồng thời hỗ trợ cho các hiền giả Minh triết tại các nước thành lập các Trung tâm, các Hội Thiền mang tên Trần Nhân Tông tại các nước. Đến nay, Hội Thiền Trần Nhân Tông Hà Lan, Na Uy, Úc châu đã được chính quyền địa phương cho phép sinh hoạt. Tượng thờ Trần Nhân Tông đã được kiều bào ta tại các nước cung thỉnh về Hà Lan, Na Uy, Đan Mạch. Hàng năm, nhân dịp kỷ niệm ngày mất của Trần Nhân Tông, các Hiền giả minh triết tại các nước Pháp, Mỹ,Cộng hòa Séc, Slovakia, Úc châu, Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy... đều tổ chức tưởng niệm Ngài. Tháng 3 năm 2010, các Hội viên của Trung tâm đã cùng gần 300 hiền giả minh triết dự cuộc gặp gỡ và giao lưu toàn cầu, đặc biệt đã tặng tượng Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông cho Trung tâm Phật giáo Quốc tế Thái Lan và chùa Việt Nam thuộc hệ phái đại thừa tại Thái Lan. Tại cuộc gặp gỡ giao lưu này, con dân đất Việt từ mọi miền Tổ quốc và thế giới hướng về Đức Điều Ngự Giác Hoàng, với sự cung kính, tôn nghiêm, khắc ghi trong tâm khảm về trí tuệ, đạo đức, hành trạng của Ngài, cùng nhân dân ta tôn vinh Ngài là biểu tượng của Trí tuệ Phật Việt Nam, là viên ngọc vô giá không chỉ của người Việt Nam mà còn của cả loài người.
Ông Ngô Văn Quán - Giám đốc Trung tâm Unesco Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam
PV: Tại sao lần này Trung tâm lại đưa bức tượng dâng tậng tới Open Minds Foundation và Harvard, thưa ông?
Ông Ngô Văn Quán: Đây cũng là một cơ duyên, chúng tôi trân trọng lý tưởng cao quý của  Open Minds Foundation , do Giáo sư đáng kính Thomas Patterson, Đại học Harvard  làm Chủ tịch  và cảm thấy đồng cảm với ý tưởng Ngày Hòa giải Yêu Thương mồng 9 tháng 9. Hòa giải yêu thương cũng là tư tưởng cơ bản của Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Chúng tôi cùng bàn bạc với nhau và quyết định dâng tượng Ngài cho Open Minds Foundation và Trường Harvard để thể hiện sự trân trọng đối với trung tâm tri thức của thế giới, đồng thời cũng mong muốn đưa hình ảnh và tư tưởng của Trần Nhân Tông tới được trung tâm văn hoá, khoa học lớn của thế giới .
PV: Có điểm gì đặc biệt ở bức tượng dâng tặng Open Minds Foundation và trường Harvard, thưa ông?
Ông Ngô Văn Quán: Bức tượng tặng Open Minds Foundation và trường Harvard cũng rất đặc biệt, được làm từ loại gỗ mít hơn 100 tuổi và sơn son thếp vàng bên ngoài. Gỗ mít từ ngàn đời nay đã được coi là thứ cây linh thiêng thường được ông cha ta sử dụng để làm tượng Phật. Để làm bức tượng này, chúng tôi phải nhờ tới nghệ nhân Hồng Ánh ở Sơn Đồng, Hoài Đức, Hà Nội. Chúng tôi có mẫu tượng theo phiên bản ở chùa Siêu Loại, Gia Lâm nhưng bản thân nghệ nhân làm tượng khi tạc diện cho Trần Nhân Tông phải ăn chay và thiền quán để có thể hình dung ra Đức Phật Hoàng với tình yêu nước và yêu thương con người vô bờ bến. Đó là những tư tưởng tưởng như đơn giản nhưng vô cùng sâu sắc mà Đức Phật Hoàng đã dùng cả cuộc đời mình để làm tấm gương cho hậu thế noi theo.

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

Ngọc phả Trần triều Tiết chế Quốc lão hiển tướng đại vương (TBHN 2008)


NGỌC PHẢ TRẦN TRIỀU TIẾT CHẾ QUỐC LÃO
HIỂN TƯỚNG ĐẠI VƯƠNG
LAN ANH - VĂN QUÝ
Sở Văn hóa Thể thao Du lịch Hà Nội
Đền Bắc Lãm, thuộc thôn Bắc Lãm, xã Phú Lương, thành phố Hà Đông. Xưa, vào thời thuộc Minh gọi là huyện Ứng Bình, phủ Giao Châu, sang thời Lê đổi thành phủ Ứng Thiên. Vào triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long thứ 13 (1814) gọi là phủ Ứng Hòa. Trước đây, thôn Bắc Lãm, xã Phú Lương thuộc huyện Thanh Oai, theo sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: Tên Thanh Oai thấy nhắc đầu tiên từ thời nhà Lý, tức năm Trị Bình Thiên Ứng thứ 3 (1207), triều Lý Cao Tông gọi là Thanh Oai hương, sau đổi là huyện Thanh Oai. Vào cuối thế kỷ XIX, thôn Bắc Lãm thuộc thành phố Hà Nội, đến năm 1991, tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình, thôn Bắc Lãm thuộc Hà Tây. Và đến ngày 1 tháng 8 năm 2008, thuộc thành phố Hà Nội. Hiện tại, ngôi đền toạ lạc rìa làng, trên một thế đất đẹp, từ làng vào đền phải đi qua một đoạn đường nhỏ, rộng chừng 02 mét và dài khoảng 500 mét, do vậy ngôi đền khá xa khu dân cư nên tạo được một không gian tĩnh lặng, thâm nghiêm ít có ngôi đình, ngôi chùa nào có được. Ngôi đền có kết cấu kiến trúc chữ Nhị gồm Đại bái, hậu cung và một số công trình bổ trợ khác. Khi chúng tôi tiến hành khảo sát, nghiên cứu ngôi đền để trình UBND tỉnh Hà Tây (cũ) xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá được các vị cao niên truyền kể, ngôi đền thờ Đức thánh Trần, Tướng quân Phạm Ngũ Lão và Công chúa Anh Nguyên. Kết cấu kiến trúc ngôi đền còn khiêm tốn, các mảng chạm khắc trên các bộ vì mang dấu ấn đậm nét thời Nguyễn nhưng số lượng di vật khá phong phú với nhiều chất liệu khác nhau như bát hương, hương án, tượng Đức thánh Trần, Danh tướng Phạm Ngũ Lão, Công chúa Chiêu Anh..., nhóm di vật giấy có 05 đạo sắc phong gồm 01 sắc Cảnh Hưng thứ 40 (1779); 02 sắc Cảnh Thịnh thứ 7 (1799); 01 sắc Thiệu Trị thứ 4 (1844) và 01 sắc Tự Đức thứ 22 (1860). Đáng chú ý hơn cả chính là bản Ngọc phả Trần triều Quốc lão hiển tướng đại vương. Bản Ngọc phả này gần như còn nguyên vẹn, được cổ nhân viết trên giấy dó thể chữ chân, khổ 15 x 20, gồm 15 tờ. Sau khi chúng tôi dịch nghĩa, nhận thấy đây là một văn bản hay, giàu chất sử liệu, văn liệu... nên chúng tôi gửi tới Quý viện để tham gia Hội thảo Hán Nôm học năm 2008.






NGỌC PHẢ TIẾT CHẾ QUỐC LÃO HIỂN TƯỚNG ĐẠI VƯƠNG TRIỀU TRẦN
Nước Việt xưa, trời Nam mở vận, Thánh tổ gây dựng cơ đồ hơn hai nghìn năm, Hùng Vương dựng hiệu, trải đến các vị minh quân triều Đinh, Lê, Lý, Trần đều chuẩn cho huyện Chí Linh, phủ Thiên Tường, xứ Nam Định, tức Mặc Trại có họ Trần, vốn là đại thần của Lý đế. Khi ý trời cáo chung, cơ đồ nhà Lý mạt, Nữ quân Chiêu Hoàng lên ngôi, Trần Thủ Độ phụ chính, điều hành quốc sự. Khi ấy có cháu là Trần Dung công vào làm Nội thị, dung mạo khác thường, Nữ quân Chiêu Hoàng vui vẻ nhường ngôi, thiên tâm đã định ở nhà Lý, nhà Trần không chiến mà thành, há chẳng phải ý của đất trời! Vậy có thơ rằng:
"Phút chốc khuynh thành há chiến tranh
Thiên tử đăng ngôi tự nhiên thành
Đều do thiên mệnh lòng người thuận
Bách quỹ qui về bậc đức danh".
Lại nói, Trần Thái Tông nối nghiệp Lý gia (vua họ Trần, húy Dung, tiên tổ họ Mân, 4 đời sống ở Lang Mặc, cha là Trần Thừa, mẹ là Lê Thị An, vua là con thứ, anh trai là Liễu công, chú là Trần Thủ Độ. Vua ở ngôi 33 năm, thọ 60 tuổi. Vua thuở nhỏ thông minh thánh triết, đại độ chí nhân, có khí tượng của bậc đế vương). Thời ấy, anh vua là Trần Liễu công, tuổi ngoại 30, phụ mẫu trước đây đều là dân miền sông nước, mộng thấy giao long nhập miệng mà sinh Liễu công, ông tính bẩm thông minh trí tuệ, tài đức hơn người. Khi vua được nước mà lên ngôi phong Liêu huynh làm Thái úy, nhậm phủ Thanh Hóa. Liễu công lấy gia nữ họ Lã ở trại Vạn Kiếp làm Chính phi (húy Hồng), nên vợ nên chồng qua khoảng mấy năm uyên ương thắm thiết, cầm sắt giao hòa, sớm ứng mộng lân. Một hôm, Lã nương nằm ở phía lầu tây rồi ngủ thiếp đi, mộng thấy mây ngũ sắc bay từ trên trời giáng xuống hoá thành người đi đến trước mặt, trong mây lại thấy hai thanh đồng, một người mặc áo xanh, một người mặc áo đỏ. Đồng tử áo xanh, tay cầm trượng đỏ đầu vàng, đồng tử mặc áo đỏ cầm kim đao. Hai đồng tử giao chiến, đồng tử áo đỏ thua chạy, đồng tử áo xanh truy đuổi trảm được đồng tử áo đỏ rồi mang đầu đi bộ trở lại nhập thẳng vào bụng Lã nương. Phi tỉnh giấc biết đó là mộng, thế rồi đem việc đó kể với Liễu công. Liễu công bèn bảo với Phi rằng: “Nhà ta phúc hậu mà trời ban cho, việc ấy tất có thiên thánh giáng trần, ắt sinh ra tuấn kiệt, không phải là cái mộng bình thường”. Sau đó, Lã nương có mang 13 tháng, vào ngày 10 tháng 3 năm Ất Mão thì sinh hạ được một người con trai, thể mạo sáng ngời, tư chất vời vợi, mặt như chữ điền, ngũ nhạc chầu thiên, mi Nghiêu mắt Vũ, vai Vũ mày Thang, thật là kỳ nhân trên đời. Trong lúc sinh, mây hồng một phiến từ trời giáng xuống nhập thẳng vào phòng, ánh sáng huy hoàng, ngát thơm khắp phòng. Sau khi sinh được trăm ngày, cha mẹ yêu quý như châu ngọc bèn đặt tên là Tuấn công.
Thời ấy, Thái úy Liễu công vâng mệnh vua đi chinh phạt Chiêm Thành, khi dẹp xong trở lại kinh đô, vua tái phong làm Càn vương, cung phi làm Chánh thái hậu. Khi ấy ông đã thôi nhiệm phủ Thanh Hóa. Bấy giờ, Thái Tông nghe nhiều gian mưu của Thủ Độ, muốn cướp thiếp của Liễu huynh (tức là cung phi của triều Lý) cưới làm vợ lẽ. Lòng Liễu công đại giận, làm loạn Văn Giang, ông gửi Tuấn công sống với cô ruột (tức là muội của Liễu công) là Thuỵ Ba công chúa. Năm ấy Tuấn công bẩy tuổi, thật là người có anh tài, dũng lược, mưu trí khác người thường. Cũng vì Liễu công hận vua mà làm loạn Văn Giang nên Công chúa Thuỵ Ba lo sợ bụng dạ Trần Thủ Độ, không bắt Liễu công ắt bắt con của ông mà hành tội, bèn đem Tuấn công chạy tìm nơi khác để giấu nuôi dưỡng. Hôm đó, Thụy Ba công chúa sai thân nhân giả làm người buôn bán đem ông (tức Tuấn công) giấu đi. Một hôm, có người đưa ông đến xã Khúc Thủy, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, xứ Sơn Nam Thượng. Bấy giờ, đất Khúc Thủy có một ngôi chùa lớn cạnh đường cái ven sông, gọi là chùa Trì Long (sau này Lê Thái Tổ đổi làm chùa Trì Bồng), có người họ Lý làm Thống nhân giữ chùa tên là Đạo Huyền, người này có kỳ binh linh nghiệm, dị thuật kỳ tài. Thống nhân nhìn thấy ông hỏi rằng: “Phụ mẫu của ông xứ nào, có thể cho biết danh tính được không?”. Tuấn công trả lời: “Cha mẹ vốn là thường dân buôn bán, bởi bị thua lỗ mà nợ nhiều, cho nên dắt đem con thơ chốn đi nơi khác để nuôi dưỡng vậy”. Thống nhân nghe vậy lại nhìn thể mạo khôi ngô của ông, trong lòng thương cảm bèn bảo người kia rằng: “Ta muốn truyền đạo pháp cho đứa bé này, hôm nay gặp gỡ tất là từ tâm dẫn đến cửa thiền, muốn nuôi dưỡng có được không?”. Người kia trả lời: “Vâng!”. Rồi đồng ý gửi ông ở đó và trở về. Từ đó, ông theo Thống nhân thụ truyền đạo pháp, trải qua ba năm tâm truyền khẩu thụ kỳ môn, dị thuật, ông đều nhập hết trong lòng, đã đắc được cái đạo ấy.
Khi ấy, đất xã Khê Tang có cây cổ thụ, tán kéo dài hai ba nơi, gốc ở đường ngõ bản ấp, thường có yêu khí tụ tập ở đây. Nhiều người trong ấp bị hại, yêu khí biến hiện bất thường, có thể làm tật bệnh lây truyền. Lúc này, nhân dân nghe ở chùa Khúc Thủy có vị Thống nhân trụ trì, đạo cao, đắc pháp, nhân dân xa giá đến đón. Chẳng may, vị Thống nhân đi trợ giúp nơi khác, đường xa chưa về, chỉ có Tuấn công ở đó, nhân dân hỏi ông: “Sư thống du ở phương nào, thanh tiểu có thể cho biết được không?”. Ông trả lời:“Tôi không phải là Thanh đồng, không phải tiểu trong chùa. Nhân dân có việc gì mà hỏi Sư trưởng, nếu có thể giúp, tôi nguyện thay ông cũng giúp được vậy!”. Nhân dân nghe vậy, ngầm nghĩ Thanh đồng tuổi nhỏ, ngôn ngữ chẳng phải người thường lấy làm việc lạ. Nhân dân lại hỏi rằng:“Nhân dân địa ấp nhiều người bị tật bệnh hoành hành, ông có thể giúp được không?”. Ông lại nói:“Việc nước phải giúp yên ổn há yêu khí nào mà làm khó được”. Nhân dân nghe vậy liền đón ông về ấp. Hôm đó, ông về đến địa ấp (tức Khê Tang) thì tối, nhân dân trong ngõ ấp nghe tiếng của nhiều người khóc lóc, tiếng nói trong ấp ngoài ngõ, trên tường, trong cổng cùng nói rằng:“Dân chúng nay có chủ quản đến nắm giữ, chúng ta chạy mau, nếu còn kéo dài tất bị chủ quản bắt tội”. Nói xong, lại khóc ầm ĩ rồi nhau bỏ chạy. Nhân dân cho đấy là việc lạ, cùng họp lại nói với Tuấn công. Vừa sáng sớm, ông truyền nhân dân thiếp lập đàn tràng, trai giới cầu đảo, tế lễ trời đất, truyền nhân dân mua giấy ngũ sắc rồi đứng trước đàn (đàn tràng dựng ở đầu ngoài phía phải bãi đất, bên trái nơi đường ngõ dân đi, giữa gốc cây cổ thụ nơi phát ra yêu khí), miệng niệm thần chú, đặt giấy ngũ sắc ở trong đàn, thiếp lập một đàn nhỏ. Ông niệm chú xong, một trận gió nổi, lôi đình dữ dội, trời đất u minh, cây cổ thụ bị hủ mục rồi gẫy, rồi thấy giấy ngũ sắc tán bay hết lên trời, được một lát trời lại sáng trở lại, xuất hiện một con đại xà dài hơn mười trượng nằm chết ở gốc cây, giấy ngũ sắc quấn quanh thân con xà, trong khoảnh khắc con xà biến thành nước. Từ đó nhân dân yên ổn, mãi mãi không còn yêu khí hoành hành. Hôm đó, nhân dân (tức Khê Tang) hành lễ tạ ơn và xin làm tôi con của ông, ông bèn bảo với nhân dân rằng:“Ta nay trong bước tang bồng, vả lại gia thế lại có phúc hậu đều là vì dân, há lại ở trên dân được chăng! Nay đến với nhân dân, cậy nhờ Đạo sư học đạo ở Khúc Thủy đắc đạo pháp để giúp hoạn nạn của dân kết thành nghĩa lớn, há chẳng phải đạo trời dẫn đến, nhân dân ở đây đã có lòng hậu báo, ta cũng bằng lòng”. Ông viết thêm cho nhân dân mỹ tự, tên huý để nhân dân phụng tự và trấn yêu tinh không thể phục khởi. Ông lại nói với nhân dân rằng:“Dựng một nhà nhỏ, mỗi tháng hai kỳ đến ngày sóc vọng thiếp lập hiệu của ta, bí mật nguyện cầu ta đến để giữ chấn yêu tinh rồi sau tự sẽ ổn”. Nhân dân, phụ lão đều theo mệnh ông. Xong việc, ông trở về chùa Khúc Thủy, khi đó bỗng thấy binh sỹ loan giá đến đón ông, người đứng đầu thưa với ông rằng: “Nay vua đã dụ Càn Vương hồi triều, tái thăng làm Hiển hoàng, nay mệnh tiểu thần đón ông về triều thống soái nhân dân”. Nhân dân Khúc Thủy và Khê Tang thấy vậy, tất cả đều tròn mắt kinh ngạc, ngay hôm trước đó (tức ngày 10 tháng Giêng) hành lễ bái lạy chúc mừng. Ông tạ lễ trước Phật và đón Thống sư về kinh thành để báo đáp đạo thầy phụng dưỡng (sau này, Thống sư hoá tại Hoan Châu, tức đất Nghệ An, cũng có lập miếu phụng tự ở đất Khổng Tước, Hoan Châu). Việc trong chùa đều ủy thác cho nhân dân bảo giữ. Từ đó, nhân dân xã Khúc Thủy, xã Khê Tang biết Tuấn công là chi phái của tông thất hoàng gia đều nhất mực kinh sợ, nguyện theo làm tôi con của ông
Lại nói, từ khi theo giá hồi triều, năm đó Tuấn công đã 21 tuổi mới nhập điện vua, khấu tạ bệ ngọc, diện kiến mặt rồng. Vua thử tài năng của ông thì quả thực là anh hùng quán thế, dũng lược hơn người, thật là có kỳ mưu dị thuật, bèn ban chỉ và sủng ái, ông sớm tối bên cạnh vua, triều đình cử ông làm Hành khiển điển vệ tướng quân, phòng ngự biên giới phía bắc.
Bấy giờ, quân Nguyên đóng tại Vân Nam đã hai năm mà không dám xâm phạm địa phận nước ta. Tháng 2 năm Mậu Ngọ, giặc Mông (cũng là quân Nguyên) hơn 30 vạn quân tiến đến xâm lược nước Nam. Nhà vua phong Tuấn công làm Tiết chế kiêm Tả hữu thuỷ bộ tướng quân, đem 60 vạn binh, phân đạo lập đồn. Từ Tam Đái đến đường lớn, ven các con sông Nguyệt Đức, Bạch Đằng, Lục Đầu ở phía bắc kinh thành thông các xứ Hải Dương, Sơn Nam Thượng đến các đường lớn, bờ sông ở Chân Định đều thiết lập đồn doanh để đón giặc Mông Cổ, phân đạo đánh giặc. Trần công (tức Trần Quốc Công) ở chính đạo tiến thẳng đến xã Khê Tang, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, xứ Sơn Nam. Hôm đó là ngày 12 tháng 3, nhân dân hành lễ bái giá. Ông bèn quan sát địa thế bờ sông ở đây, tức nhánh nhỏ sông Tô Lịch rồi thiếp lập một đồn để chế ngự quân giặc. Dân binh tráng lực ở xã Khúc Thủy nguyện theo ông làm gia thần thủ túc, ông tuyển làm Nội đao được 37 người. Dân binh tráng lực xã Khê Tang cũng nguyện theo ông làm gia thần thủ túc, ông tuyển được 211 người. Sau khi thiết lập đồn doanh xong, ông xa giá cử binh tiến đến huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, Hải Dương thiết phân đồn. Sau đó, ông trở lại ba xã ở huyện An Lạc, phủ Tam Đái, xứ Sơn Tây, thị sát đồn rồi hồi binh ngự chiến tại đồn Thọ Lão và Chu Thần.
Khi đó quân Mông rất mạnh, nhà vua thân chinh ngự chiến tại các vùng đất ở sông Lô, sông Thao. Hai đạo quân hùng mạnh của giặc tiến tới, một đạo chia binh tiến đến phủ Tam Đái, nhà vua thoái binh về kiên thủ ở sông Lô, sông Thao, mệnh cho bề tôi truyền hịch báo Tuấn công. Khi ấy, Tuấn công đang ngự thủ ở đồn Chu Trần, nghe sứ của vua cấp báo quân Mông đã tiến đến sông Bạch Hạc, phủ Tam Đái. Ngay trong ngày, Tuấn công bèn sai sứ thần truyền hịch thông báo các đồn binh từ sông Nguyệt Đức đến sông Bạch Đằng, sông Lục Đầu cho đến các địa giới đồn Thượng Hồng, Khúc Thủy, Khê Tang chuẩn bị vũ khí, tả hữu hai bên bờ sông ứng chiến. Vừa sáng sớm, Tuấn công phân đạo binh nghênh chiến, trông xa thấy quân Mông đông mạnh, tiếng giặc khởi dậy lôi đình, chiêng trống liên hồi kinh thiên động địa. Tuấn công mệnh cho Thí công cầm 500 binh tiên phong dẫn chiến, giả bại khiến quân Mông dốc tiến để chiến. Vừa đến đồn Vân Thủy, binh trượng bốn mặt cùng hiệp công, Tuấn công tiếp chiến phía sau, binh của vua cùng bẩy vị Đinh Sơn đem quân từ Sơn Dương, Tam Dương tiến thẳng đến hiệp chiến. Một trận đại bại, quân Mông Cổ chạy thẳng đến thành Thăng Long, lại thêm một trận chiến lớn, quân Mông Cổ đại bại chạy tan tác đến huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, xứ Sơn Nam Thượng. Tuấn công truy đuổi đến nơi, bèn truyền đồn Khê Tang xuất chiến, quân Mông Cổ chạy về sông Bạch Hạc. Khải công đốc lãnh binh các đồn chuẩn bị khí giới xuất chiến. Tuấn công, Khải công chia đường hiệp công, truy trảm hơn 1.000 đầu giặc vứt xuống sông Bạch Đằng, máu nhuộm đỏ sông, quân Mông tan tác, băng đảng còn lại chạy thẳng đến Đông Bộ Đầu. Vua cùng Tuấn công lại đốc chư tướng truy đuổi, trảm tỳ tướng và binh tốt quân Mông, bắt sống hơn 3.000 tên. Tuấn công lại lệnh cho trại A Bổng tiếp tục nghênh chiến, quân Mông lại bại, chạy về Bắc quốc.
Giặc Mông đã thảo phạt xong, nhà vua hiệu triệu binh lính, tướng sỹ các đạo hồi thành đô, mở tiệc lớn khao binh sỹ, ban thưởng ba quân, gia phong binh tướng. Bao phong cho Tuấn công làm Hưng Đạo Đại Vương. Từ đó, quân thần hiệp đức, thiên hạ thái hòa, quốc gia vô sự. Lại gia thưởng phương dân các địa đầu, thiếp lập đồn doanh để cho Tuấn công làm nơi ngơi nghỉ, sau này nhân dân lập từ phụng sự, tế lễ hương hỏa muôn đời ở đó, biểu thị phương danh của bậc công thần, mãi lưu hậu thế.
Một ngày, Tuấn công thỉnh vua nhàn du, vua nghe theo, Tuấn công bái tạ điện tiền rồi loan giá cử binh du ngoạn khắp nơi. Một hôm, ông xa giá trở lại xã Khúc Thủy, trú binh ở đó mấy ngày, tu sửa cảnh chùa, nhân dân hành lễ bái hạ. Xong việc, ông lại xa giá đến xã Khê Tang, truyền binh sỹ, nhân dân xây dựng doanh sở để cho chu tất. Ngày hôm đó (tức ngày 10 tháng 9) Tuấn công triệu phụ lão, nhân dân đến cùng mở hội yến, trong lúc yến ẩm, Tuấn công bèn nói với phụ lão và nhân dân rằng: “Ta với nhân dân đã trở thành nghĩa sâu từ trước kia rồi, chẳng phải đến hôm nay mới có ân tình như vậy! Ví như trong lúc chinh chiến, dân chúng cũng theo ta hơn trăm người làm thủ túc, gian khổ ngàn dặm, trung tiết một lòng, sư đệ chí tình, quân thần hữu đạo, đều là người của một ấp, chẳng phải là người ngoài vậy! Nay đội ơn đức vua, lại cho đồn doanh các nơi là đất ngụ lộc của ta, sau này để phụng sự ta, há chẳng phải cái nghĩa vững bền hay sao! Nay có nơi đồn, ta đã xem qua hình thế tựa hoa sen nở, hậu trẩm mộc tinh kết mạch, tả hữu phong tinh đều đến chầu, trước có minh đường tú thủy, bàng bút cư phía trước, phía tả có hình rồng chim phượng, phía tây nam tất thảy đều triều phục, đó là đất quý của Khê Tang”. Ông bèn sức dân sửa chữa, lại ban hoàng kim trăm hốt để giúp dân tu sửa chùa chiền. Phụ nữ, nhân dân đều hoan hỷ thụ mệnh theo sự uỷ thác của ông. Xong việc, ông lại xa giá hồi triều, lúc đó là tháng 2 mùa Xuân, Thái Tông truyền vị cho Hoàng thái tử, hiệu gọi là Thánh Tông hoàng đế, tôn Thái Tông làm Thái thượng hoàng. Khi Thánh Tông lên ngôi bèn phong Tuấn công làm Quốc công, thống lãnh các việc của chư quân. Khải công làm Thái uý, Thành công làm Thái bảo (cũng là em Tuấn công), bèn đem binh theo Thượng hoàng đi thảo phạt bọn Man Liêu ở động Lẫm Bà. Thảo phạt xong xa giá hồi kinh, đến tháng 4, Trần Thái Tông băng hà. Trải đến Nhân Tông hoàng đế (tức con trưởng của Thánh Tông, tại vị 14 năm thì băng). Trong thời gian này, Hoàng đế nhà Nguyên sai Thái tử Trấn Nam Vương Thoát Hoan làm Bình chương sự các vùng ven biển ở An Thứ và An Lý, đem trăm vạn tinh binh đến xâm lược nước ta. Ngay sáng sớm hôm đó, thấy sao Thái Bạch di chuyển giữa bầu trời, vua hỏi quần thần đều không ứng tấu được, chỉ có Tuấn công tấu rằng:“Bắc binh lại đến xâm lược”. Chưa qua chiều tối, khi lời tấu còn như chưa dứt, bỗng thấy phiên thần biên thư cấp báo. Hoàng thượng (tức Thánh Tông) mời phụ lão trong thiên hạ đến vấn kế, muôn người cùng nói rằng: “Đánh!”. Hoàng thượng tái phong cho Tuấn công làm Quốc công tiết chế kiêm Thập đạo tướng quân lãnh 50 vạn hùng binh xuất chiến. Ngay trong ngày hôm đó, Tuấn công lãnh mệnh chinh phạt quân Nguyên, đường đường xuất quân từ cổng thành tiến thẳng đến các đường Vân Trường, Ba Điểm, Hải Đông nghênh chiến. Khi ấy, quân Nguyên phân hai đạo, một đạo tiến đến Thuỷ Chu, một đạo tiến đến Lộc Châu. Quan quân chống giữ quanh đỉnh Khâu Ôn, Khâu Cấp bị quân Nguyên đánh bại, thế khó có thể cự được giặc Nguyên. Quân giặc tiến thẳng sau vào nội địa. Tại Vạn Kiếp, thuỷ đạo của Thành công chiến đấu với quân Nguyên, thế giặc mạnh nên Thành công nhảy xuống sông tự vẫn, quan quân thua chạy. Vua nghe quân Nguyên đã phạm đến kinh sư, quan quân bại nhiều bèn bỏ thành, ngự trên một chiến thuyền rời đến Đông Hải rồi gặp Tuấn công mà nói rằng: “Thế nước an nguy đều dựa vào Lão thần”. Tuấn công tâu rằng: “Nguyên tuy trăm vạn tinh binh, thần nguyện xem như thủ nhĩ của Liệu Hồng”. Nhà vua nghe vậy rất vui bèn ngâm một bài thơ:
"Quốc gia yên ổn dựa ở ta
Xã tắc tồn vong dựa lão thần
Quân sỹ cần lao vì vận nước
Chẳng từ gian khó báo ơn vua".
Lại nói, Tuấn công nghe việc quân Nguyên đã cướp đồn Vạn Kiếp. Hưng Vương (tức Tuấn công) truyền hịch các đạo binh cùng hội quân đến thẳng Vạn Kiếp để chống quân giặc, bốn mặt hiệp chiến, quân Nguyên đại bại tan tác. Hưng Vương truyền binh lập đồn ở Phả Lại, Chí Linh, truyền chư tướng cố thủ, trước là để giữ yên vùng biển, sau là khi quân Nguyên trở về tất sẽ qua đường này. Trước tiên, Hưng Vương bí mật sai chư tướng phục binh ở cửa biển Tam Giang cùng Nguyễn Khoái lãnh đội quân Thánh dực Nghĩa dũng kiên thủ đồn doanh, chiến đấu với thuỷ đạo của tướng Ô Mã Nhi. Trong lúc đó, Hưng Đạo Đại Vương chiến đấu một trận ở đồn chính Vạn Kiếp, quân Nguyên thua chạy, thoái lui về sông Bạch Đằng. Hưng Đạo vương truy chiến, thừa nước thuỷ triều lên dụ chiến ở phía bắc. Ô Mã Nhi cho là tất thắng liền dồn sức truy đuổi, bấy giờ con nước rút xuống, Nguyễn Khoái phục binh truy kích. Đại bại, Ô Mã Nhi thu hết số thuyền còn lại bỏ chạy, đúng lúc thủy triều rút xuống nhanh chóng, thuyền giặc mắc cọc chìm đắm gần hết, quân Nguyên chết đuối vô kể, nước đỏ một màu. Quân ta bắt sống Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp dâng lên Thượng hoàng. Thượng hoàng bèn đưa Ô Mã Nhi lên thuyền đưa đến ngã ba sông Bạch Đằng trảm làm ba đoạn. Từ đó quân Nguyên không dám đến xâm phạm nước ta nữa, việc đánh giặc đã xong. Nhà vua cùng Tuấn công trở về (tức ngày 7 tháng 5), đến huyện Ứng Hoà, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam, vua hạ trại trú binh ở đó. Ngày hôm đó, nhân dân các xã Khê Tang, Khúc Thủy đều ra hành lễ bái hạ. Nhà vua mở yến tiệc lớn, bách quan cùng vui mừng. Lúc đó, nhân trong tiệc vui, vua bảo với bách quan rằng: “Quốc gia lại được yên bình là do dựa vào sức của Tuấn công, như trẫm thì làm gì! Nay gia phong Tuấn công làm Quốc lão hiển tướng đại vương, hứa cho các đồn binh sở tại cùng lập sinh từ phụng sự để báo đáp công lao, há chẳng tốt lành sao!”. Khi ấy, Khê Tang, Khúc Thủy đều thụ mệnh lãnh ý chỉ. Nhà vua còn ở lại đất này để giải giáp binh lính hơn mười ngày.
Tuấn công trở lại đồn Khê Tang, hôm đó (tức ngày 11 tháng 5), nhân dân thiết lập hành cung hành lễ, Tuấn công nói với phụ lão, nhân dân rằng: “Vương sự cần lao, mệnh thì nhẹ nhàng thôi, không ngờ đến ngày hôm nay lại được sống sót mà quay về vui cùng nhân dân. Ví thử sau này vạn nhất ra sao, hôm nay (tức ngày 12 tháng 5) lấy làm ngày sinh của ta”. Chúng thần, nhân dân đều tuân theo thụ mệnh ông. Ngài cư ở đây, đại khai yến tiệc bảy tám ngày.
Khi vua cử giá hồi kinh, ông cử binh theo ngọc giá hồi kinh phụng sự. Ngày hôm đó, vua đại khai yến tiệc, gia phong ban thưởng công thần, lại bao phong cho Tuấn công làm Quốc công Thượng tướng quân kiêm Tri nội ngoại các, thống lãnh văn võ bách quan.
Lại nói, sau khi Tuấn công quét sạch giặc Nguyên, đất nước thanh bình, năm đó ông đã cao tuổi liền tạ ơn vua xin về đất Vạn Kiếp (tức đền Kiếp Bạc) dưỡng nhàn, việc nước việc quân để con thay ông (ông sinh được 5 người con trai, vua đều phong vương) cùng Khải công phụ chính. Vua đồng ý, bèn gia tặng kim ngọc, lụa tiền hơn 500 cân. Xa giá bách quan tiễn ông về đất Vạn Kiếp, truyền nhân dân thiết lập các quán cư (khi ấy người hai xã Khê Tang và Khúc Thủy theo ông làm thủ túc 129 người). Từ đó, ông thường về cung cấp, tu sửa sinh từ, nhàn du bến nước. Ngày qua tháng lại, ông đã 82 tuổi, vua thường đến thăm hỏi. Vào mùa thu (tức ngày 10), Tuấn công quốc lão nhàn toạ trong cung, bống thấy hoàng xà (rắn vàng) dài hơn 20 trượng xông thẳng vào chính tẩm trong cung, thoáng chốc đã biến mất, ông bạo bệnh, vua thân hành đến hỏi thăm quốc sự: “Sau này ai có thể đảm đương được việc nước”. Ông nói:“Các con của thần đều có thể đảm nhiệm được”. Ông lại tâu với vua:“Đất Khê Tang, Khúc Thủy từ trước đây thần đã có thân tình, nay thành nghĩa cũ đều là sư đệ một nhà. Xin vua thương miễn dịch về lương binh, thần đã được đội ơn rồi”. Vua đồng ý cho như vậy. Ông lại tâu rằng: “Sau khi thần hoá, xin bệ hạ cho hoả thiêu, thân tro để vào đất Lạc Trung Viên, rừng cây tươi tốt, chớ đặt mộ ở núi, bọn giặc biết”. Khi đó, giờ Ngọ, ngày 20 tháng 8, bỗng thấy gió mây loạn khởi, trời tựa như đêm, đúng lúc đó Tuấn công quốc lão hoá. Vua mệnh cho các quan hành lễ lập đàn hoả thiêu, khi xương cốt gần tàn, bỗng thấy đám khói bốc lên, Tuấn công cưỡi mây thăng thiên biến mất. Bách quan cùng nhân dân đều kinh ngạc, vua truyền các quan cất tro cốt ở dưới đất Lạc Trung Viên, trồng cây lên trên thành một khu rừng.
Lại nói, khi an táng xong, vua xa giá về kinh, bao phong mỹ tự, truyền các sở tại chuyển giá tề tựu đến kinh thành đón sắc chỉ mang về phụng tự bách niên vạn cổ, hương hoả vô cùng, dài lâu cùng nước, lấy làm hằng thức thịnh mãi về sau. Phong ông làm Quốc lão hiển tướng đại vương. Nhân dân các nơi cùng tề tựu về kinh thành hành lễ, ngày hôm đó trời đất hối minh, nhân dân hành lễ xong, vua mệnh đình thần đón sắc chỉ trở về từ ấp hành lễ khâm tế (Vạn Kiếp là chính sở, trước đây Thái Tông phạt giặc Mông Cổ, ông đã có công đánh đuổi giặc đem lại thái bình cho đất nước, Thái Tông đã phong mỹ tự cho ông khi còn sống, khắc vào lòng bi để lập đàn từ, hơn 10 nơi tuân theo mỹ hiệu khi ông còn sống để phụng tạ, việc này có ghi trong tích khác). Xong việc, vua nghĩ đến lời chúc khi ông lâm chung bèn hứa cho đất Khê Tang, Khúc Thủy được miễn dịch, xuân thu nhị kỳ sai quan đến tế, bao phong Thượng đẳng phúc thần, hương hoả vô cùng ở đó.
Lại nói, cuối đời nhà Trần, truyền vận nước cho vua nhỏ, Hồ Quý Ly, Hán Thương thoán vị bức vua xuất gia tu đạo. Vua có cận thần giữ chức Nội các thị vệ tên là Đặng Thông công (theo xưa, Đặng Thông công vốn là con của Ái Chân công. Cha làm Thượng tướng của nhà trần, sống ở huyện Vĩnh Ninh, là người Hà Lãng. Mẹ là Trương Thị An, mộng thấy nhập chùa Tây Thiên, Thích Già tặng cho một cành hoa sen rồi có thai, đến ngày 15 tháng 1 năm Mậu Thìn sinh ra ông. Mặt vuông, tai lớn, trán có hoa dây, tam viên cao thật khác người thường. Vừa năm ông 20 tuổi, cha ông làm Thượng tướng quân triều Thuận Tông. Khi ấy, vua nhỏ là Thái tử, Thông công cùng vua nhỏ thương nhau như anh em ruột. Vừa khi vua nhỏ lên ngôi, mệnh cho ông giữ chức Nội các thị vệ. Khi ấy, Hồ Quý Ly Hán Thương tiếm vị nhà Trần, vua tự vẫn, cha ông là Ái Chân công lại bị Hồ Quý Ly sát hại, quan lại thân thuộc nhà lại nhà Trần cũng đều bị Hồ Quý Lý sát hại hơn 300 người. Ông phải bỏ trốn, xuống tóc làm tăng nhân nương nhờ cửa Phật) xuống tóc làm tăng, xu tầm thiền gia cảnh Phật để tránh người Hồ, đến thẳng Khúc Thủy huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên xứ Sơn Nam (trước đây Tuấn công sống ở đó gọi là Long Trì tự, sau đổi là Trì Bồng tự). Ông mới nhập cư giữ chùa, trải được ba năm. Một hôm, trong đêm tối ông toạ trong trai phòng ngủ thiếp, thấy một quan nhân áo lụa chỉnh tề, đường đường binh mã tiến đến, ông bật dậy hỏi: “Ông là quan chức từ đâu đến?”. Quan nhân trả lời: “Ta là quốc lão nhà trần”. Vị quan nhân chưa trả lời xong, ông đã hỏi:“Ông muốn báo việc gì”. Quan nhân bảo ông rằng: “Cấp báo rằng, cấp báo rằng, quân Hồ ngày mai sẽ đến cửa thiền, hãy mau chóng chạy về đất Khê Tang, huynh đệ cùng giúp đỡ”. Ông bừng tỉnh dậy, như còn thấy mộng, trong lòng lo sợ. Lúc ấy, gà điểm canh ba, quả nhiên quân Hồ bốn mặt bao vây. Ông cầm trượng trong tay, một mình phá vây, quân Hồ tan tác rồi chạy thẳng qua sông đến ấp Khê Tang, vào đền Tuấn công ẩn náu. Quân Hồ truy đuổi phía sau, đến đền tất thảy đều kinh hãi vì không thấy ông đâu nữa liền giải vây trở về. Ông ẩn náu trong đó được năm ngày thì nhân dân có biến động lớn, tật bệnh hoành hành, bèn lập đàn cầu đảo mong sự yên ổn. Đêm đó, nhân dân mộng thấy Tuấn công và Thông công toạ ở gác thượng trong đền, hai bên tả hữu binh mã đứng hầu hơn 500 người, rồi triệu nhân dân đến trước sân đền. Tuấn công trách nhân dân rằng: “Nay có quý nhân phó nhiệm cùng giúp ta việc quan, thế mà dân chúng thờ ơ vô lễ, vì thế gia thần binh hỏi trách nhân dân trong ấp”. Chưa dứt lời, nhân dân đã tỉnh dậy, biết rằng mộng báo. Sáng sớm cùng hành lễ nhập đền cầu đảo, ngưỡng trông trong gác thấy Thông công, thân mặc áo Bát Hán, đầu đội Phật quan tọa phía bên phải. Nhân dân nhớ đến giấc mộng mới hỏi rằng:“Tăng quan ở đâu đến?”. Ông báo rõ đầu đuôi, nhân dân nghe những lời ấy hoàn toàn giống với những điều đã mộng thấy. Ngay ngày hôm đó (tức 20 tháng 10), nhân dân hành lễ xin làm thần tử, ông đồng ý. Từ đó, bệnh tật đều dứt, nhân dân sớm tối thay nhau đến nuôi dưỡng ông. Được mấy năm, ông đã giáo hoá nhân dân lễ nghĩa, thay đổi thuần phong mỹ tục.
Thời đó, con thứ của Nghệ Tông (Trần Giản Định) phục khởi nghĩa binh, tảo trừ Hồ Quý Ly, Hán Thương. Quân Minh trợ chiếm mới phong Giản Định làm Nam quốc quận vương. Khi đó, Thông công nghe nhà Trần phục nghĩa binh, ông bèn chiêu mộ dân binh gia thần hơn 500 người (khi đó Khúc Thủy 21 người, Khê Tang 112 người theo ông chinh phạt) để giúp Trần Giản Định. Sau khi công cuộc thảo phạt Hồ Quý Ly, Hán Thương bình định, Giản Định lên ngôi, phong cho ông làm Phó tướng quân. Thông công từ chối không nhận mà xin theo Phật tìm về cõi tịnh độ, không muốn danh lợi luỵ trần, vua đồng ý, lại phong ông làm Linh Thông hoà thượng, gia tặng kim ngân hơn trăm hốt cùng gấm lụa. Ông liền khấu tạ vua rồi trở về hai xã Khê Tang, Khúc Thủy, tặng cho nhân dân hơn một trăm kim ngân để tu sửa cảnh chùa và các đền, cùng ban thưởng cho các gia thần. Xong việc, ông bèn nhàn du thế giới thiền môn, vui thú rừng tùng núi trúc. Một hôm, ông lên lăng mộ các tiên đế ở đền Giáp Sơn và có thơ rằng:
"Một mối cương thường trọn thân này
Rửa thù Hồ giặc báo tình vua
Khê Tang, Khúc Thủy cùng thành đẹp
Vạn cổ tiếng thơm với thế nhân".
Đọc xong, ông hành lễ mộ các tiên đế, bỗng thấy trong đền (tức đền Ái Chân công) có một đám mây vàng từ trong đền bay thẳng lên trời, được một lúc, trời đất u ám vần vũ, gió mây cuồng khởi rồi ông tự hoá. Hôm đó ngày 15 tháng 2, Thanh đồng lấy làm việc lạ trở về ấp hô hoán nhân dân cùng lên núi đã thấy thổ trùng đắp thành mộ. Nhân dân hành lễ rồi lập thần hiệu phụng tự ở đó cùng với đền cha ông. Lúc đó, nhân dân hai xã Khê Tang, Khúc Thủy nhớ đến công đức cao như núi, rộng như sông và những điều mộng báo trước đây bèn viết thần hiệu, tuân theo sự gia phong của vua để trong đền cùng nhau phụng tự. Từ đó, quốc gia, nhân dân cầu đảo, bốn mùa hương hoả, linh ứng vô cùng, từ vũ huy hoàng, phong tục của nhân dân rất thịnh. Hậu nhân mới có thơ rằng:
"Hai vị danh thần việc một nhà
Tiếng thơm vạn cổ sánh non sông
Trung quân hiếu phụ như còn tại
Cùng với trời cao những đất dày".
Lại nói, khi nhà Trần mạt, họ Hồ tranh quyền, quân Ngô khởi nghĩa, thiên hạ nhiễu loạn, lại có họ Lê, huý là Lợi ở Lam Sơn, phủ Thiệu Thiên, Ái Châu dấy binh khởi nghĩa, 3.000 hổ tướng tiễu trừ họ Hồ, yên định người Ngô. Trong lúc chinh chiến, tướng nhà Lê là Khả công lai vãng đến đền Khê Tang cầu đảo việc tiễu trừ dư đảng họ Hồ, thảo bình giặc Ngô, sau này thành vương nghiệp lập tức bao phong Thượng đẳng phúc thần. Về sau, quả thực việc cầu đảo linh ứng, quét sạch giặc Ngô, rồi lên ngôi ở Lam Sơn, niên hiệu Thuận Đức (tức Thái Tổ Cao Hoàng đế, sau đổi làm làng Lam Sơn, huyện Thuỵ Nguyên). Khi thiên hạ thái bình, vua bao phong mỹ tự cho thần là Thượng đẳng phúc thần, tạ lễ vạn cổ, hương hỏa vô cùng, dài lâu cùng vận nước. Lê Thái Tổ gia phong: Quốc lão hiển tướng linh ứng đại vương, Linh Thông phổ tế đại vương. Xã Khê Tang giữ việc phụng tự xuân thu nhị kỳ, quốc triều sai quan đến tế ở nơi này. Trải các triều đại Thái Tông, Nhân Tông, Thánh Tông, Hiến Tông cho đến Thiệu Tông thì bị quyền thần họ Mạc (đây là huyền tôn bốn đời của Mạc Đĩnh Chi làm nghề giao phu) tiếm vị xưng vương, hiệu Đại Xích Thiên Hạ, niên hiệu Minh Đức. Trải được ba đời đế vương, đến Lê Trang Tông cùng với đại thần Thái uý người nội trang Gia Miêu, huyện Tống Sơn tái khởi nghĩa trừ nghiệt Mạc. Khi ấy lại cầu ở đền Khê Tang cũng được linh ứng, âm phù trừ Mạc, phục lại vận nước nhà Lê. Sau khi thanh bình, Trang Tông lên ngôi, lại bao phong mỹ tự cho bách thần, trải đến Thế Tông, Kính Tông, niên hiệu Hồng Đức, Gia Thái, Quang Hưng đến Vĩnh Tộ, Chính Hòa, Bảo Thái đều được linh ứng, hộ quốc cứu dân. Cho nên, đế vương các triều đại đều gia phong mỹ tự, hương hoả vô cùng, phối cùng trời đất. Sau phong Hộ quốc huệ dân dực vận. Các nơi đều gia phong thêm hai mỹ tự.
Ngày sinh, ngày hoá cho đến tiết Khánh hạ cùng tên huý, sắc phục được liệt kê dưới đây:
Ngày sinh 10 tháng 3, lễ gồm gà, xôi, rượu. Phụ lão chơi đàn bát âm ca hát một ngày.
Ngày Khánh hạ 20 tháng 5, là ngày Đại vương lấy làm ngày sinh, trước một ngày làm lễ mộc dục tại miếu, quét dọn quanh miếu, tu sửa xa giá, hành lễ trâu, bò, lợn, xôi. Hát ca, đầu cờ, đấu vật trong 10 ngày.
Ngày hóa 20 tháng 8, lễ gồm trâu, bò, xôi, rượu, bánh dày.
Ngày sinh 15 tháng 1, lễ trước tiên dùng cỗ chay, hoa quả, trà nóng, ca hát một ngày đêm, sau đó dùng lợn, xôi hành lễ ở nơi tế.
Chữ húy Tuấn, Quốc, Thông, Liễu, Chân. Sắc phục màu vàng cũng cấm mặc. Hàng năm, đến ngày sóc vọng hàng tháng thì hành lễ gà, lợn. Ngày quốc tế, xuân tế lấy ngày 10 tháng 3. thu tế lấy ngày 10 tháng 8, dùng đồ tế đặc biệt.
Ngày 10 tháng 2, niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên.
Ngày 6 tháng 2, Hoàng triều Vĩnh Tộ, Quản giám bách thần, thần Lê Nguyễn Chức phụng theo bản cũ của tiền triều phụng viết chữ.
Hàn lâm viện Đông các đại học sỹ, thần Nguyễn Bính phụng soạn.
Ngày 18 tháng 11, niên hiệu Tự Đức thứ 3 (1850), sao lại nguyên bản ở xã Bình Đăng, huyện Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây.
Tàng bản của Tô Thị Lang, chùa Cổ Tích, huyện Sơn Vi./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.25-43

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

An Nam Chí Lược - Gia thế Họ Trần


Gia thế Họ Trần
Quyển Đệ Thập Tam
Gia thế Họ Trần 
Đời thứ nhứt (tức Trần-Thừa)
Người Giao-Chỉ, ngoại-thích của nhà Lý. Cuối cuộc loạn đời Lý, Trần-Thừa cùng em là Kiến-Quốc đánh giặc có công, được phong chức Thái-Uý; Kiến-Quốc được làm đại-tướng-quân. Con trai lấy con gái của Lý-Huệ-Vương là Chiêu-Thánh, nhân đó được truyền ngôi (Trần Thừa chết, truy tặng Thái-Tổ).


Đời thứ hai (tức Trần-Cảnh)
Con giữa của Thái-Tổ, tính người khoan nhân thông tuệ, văn võ toàn tài, lấy tư cách con rể nhà Lý kế vị quốc-vương. Chiêu-Thánh-Hậu không con. Cảnh lại lấy người em vợ 1 sinh được ba người con trai.
 Đầu đời Thiệu-Định (1228-1233) nhà Tống khiến sứ tiến cống, Lý-Tông phong làm An-nam quốcvương chức kiểm-hiệu thái-úy, kiêm Ngự-sử đại-phu, Thượng-trụ-quốc, cho hiệu là Hiệu-Trung Thuận-Hoá, bảo-tiết thủ-nghĩa, hoài-đức qui-nhân, Tịnh-hải-quân tiết-độ, quan-sát xử-trí đẳng sứ, thực ấp 11.000 hộ, thật phong 4200 hộ. Năm Bửu-Hựu thứ 6 (1258), dâng biểu xin kế vị. Năm Cảnh-Định thứ hai (1261), lại khiến sứ tiến cống. Vua Tống xuống lời dụ chiếu khen và sai sứ-thần đem cho vàng và phápcẩm 2.
Tháng 12 năm Đinh-Tỵ (1257), đời Đại-Nguyên, đại-súy Ngột-Lương-Hộp-Đãi đem binh từ Vân Nam đi qua biên-ấp An-nam. Người trong nước kháng cự, bị quan quân đánh phá, sợ phải đầu hàng. Qua năm Mậu-Ngọ (1258) Vương đổi tên là Quang-Bính, khiến bồi-thần 3 dâng biểu nạp khoản, xin giữ chức phận phụng công. Năm ấy, Vương nhường ngôi cho con tức Thánh-Tông.
Năm Trung-thống thứ 6 4, sắcchế phong làm An-Nam Quốc-Vương và ban cho hổ-phù quốc ấn. Năm Chí-Nguyên thứ 8 (1271) khiến sứ tiến cống. Triều-đình khiến sứ đem chiếu-thư, dụ khiến An-nam phải ba năm một lần tiến cống, sẽ cho lễ-vật hồi đáp và dụ Trấn-Vương vào bệ kiến. Vương lấy cớ đương đau từ chối.
 Năm Chí-Nguyên thứ 14 (1277), Trần-Vương mất.
(Ở ngôi 18 năm 5 thọ 60 tuổi, thụy-hiệu Thái-Vương).
Đời thứ ba (tức Trần-Hoảng):
Trần-Hoảng tức Trần-Thánh-Tông, trước đặt tên là Thế 6, con thứ vua Thái-Vương, dáng người khôi ngô có nhã lượng. Năm Mậu-Ngọ (1258) thay cha già lên làm vua, khiến sứ tiến cống nhà Tống. Khoảng niên hiệu Bửu-Hựu (1253-1258) Tống-Lý-Tông phong làm An-nam quốc-vương. Lúc đầu cha con đều thần-phục thiên-triều, đến lúc cha mất, Thế-Tử tự lập làm vua, chẳng xin mệnh lệnh của Thiên-Tử.
Năm Chí-Nguyên thứ 15 (1278), vua (vua nhà Nguyên), khiến Lễ-Bộ Thượng-thư Sài-Thung dụ vào bệ kiến. Thế-Tử lấy cớ đau từ chối và truyền ngôi cho con. Năm thứ 17 (1280), vua lại khiến Sài-Thung đem chiếu-thư qua dụ. Thế-Tử sợ, khiến người chú là Trần-Di-Ái thay mình vào chầu, bèn lập Di-Ái làm An-nam quốc-vương. Năm thứ 19 (1282) phong Sài-Thung làm An-nam Tuyên-uý-sứ Đô-nguyên-soái, khiến đem 1000 quân, hộ tống Di-Ái về nước và xuống chiếu hiểu dụ dân An-nam, các hàng tôn-thất và quan lại. Thế-Tử không vâng theo chiếu-chỉ, truất Di-Ái làm thứ dân. Năm thứ 19 (1282), lại khiến sứ dụ Thế-tử vào triều kiến và mượn đường tiến binh đánh Chiêm-Thành, khiến An-nam phải giúp quân, cung cấp lương thực. Thế-Tử từ chối, nói đau lâu ngày, không thể vào chầu và nước nhỏ không có quân để giúp.
Mùa đông tháng 12 năm thứ 21 (1284), đại-quân của Trấn-Nam-Vương áp đến biên cảnh. Thế-Tử đem cả nước nghênh địch, đánh thua, bèn bỏ thành trốn, cận-thần bọn Trần-Ích-Tắc, Trần-Kiện, Trần-Tú-Viên, Trần-Văn-Lộng đều đầu hàng. Tháng 4 năm sau (1285) quốc-dân thừa lúc viêm nhiệt, đánh thâu phục La-Thành. Tháng 5, Trấn-Nam-Vương, vì cớ nước lụt, rút quân về. Năm thứ 21 (1284) Thế-Tử dâng biểu tạ tội. Triều-đình giam sứ-thần lại và khiến Trấn Nam-Vương đem quân qua đánh một lần nữa.
Tháng 12 đại-binh đến, Thế-Tử đánh thua, chạy trốn ra hải-đảo, sau lại thừa tiện trở về tập kích. Tháng 3 năm sau Trấn-Nam-Vương, vì cớ trời nắng, ẩm thấp, rút quân về. Thế-Tử khiến con thay mình vào tạ tội 7 tiến cống thổ-sản. Năm thứ 27 (1290), lại khiến sứ tiến cống, vua khiến đề-hình án-sát ty bọn Lưu Đình-
Trực đem chiếu-thư qua hiểu dụ. Năm sau (1291) Thế-Tử mất.
(Ở ngôi 31 năm, thọ 51 tuổi, thụy-hiệu Thánh-Vương).
Đời thứ tư (tức Nhân-Tông)
Năm Chí-Nguyên thứ 15 (1278), lấy cớ cha già thoái-vị, dâng biểu xin kế tập, vua không cho.
Năm thứ 28 (1291) vua khiến Lễ-Bộ Thượng-thư Trương-Lập-Đạo dụ vào triều kiến. Năm sau, (1292) Nhân-Vương khiến bồi-thần đến cửa khuyết tạ lỗi và xin chờ hết tang cha sẽ vào chầu. Năm thứ 30 (1293) vua khiến bọn Lương-Tăng, Binh-Bộ Thượng-thư, dụ vào bệ-kiến, Nhân-Vương lấy cớ đau từ chối, khiến tướng-thần Đào-Tử-Kỳ tiến cống. Triều-đình giữ Tử-Kỳ ở Giang-Lăng, lập An-nam hành-tỉnh, khiến bọn Bình-Chương Lưu-Nhị Bạt-Đô đem binh đóng Tĩnh-Giang, chờ ngày tiến đánh. Mùa xuân tháng giêng năm thứ 31 (1294), Thế-Tổ băng hà. Tháng tư mùa hạ, Thanh-Tông hoàng-đế lên ngôi, xuống chiếu bãi binh, khiến Lễ-Bộ Thị-Lang Lý-Hãn đem chiếu-thư tha tội, thả bồi-thần Đào-Tử-Kỳ về nước. Năm Nguyên-Trinh thứ hai (1296), Nhân-Vương khiến sứ tiến cống, dâng biểu xin phong vương-tước. Triều đình không y thuận, chi cho một bộ Kinh Đại-Tạng theo lời xin. Năm Đại-Đức thứ 5 (1301), vua khiến bọn Thượng-thư Ma-Các-Ma đem sứ An-nam bọn Đặng-Nhữ-Lâm về nước, dụ An-nam theo lệ trước, ba năm một lần tiến cống, đến kỳ cứ tự vào, Triều-đình không sai sứ qua nữa. Mùa xuân năm sau (1302),
Nhân-Vương khiến Lê-Khắc-Phục vào cống. Năm đầu Chí-Đại (1308) lại khiến sứ vào cống, triều-đình khiến bọn An-Lỗ-Oai, Lễ-Bộ Thượng-thư, ban chiếu lên ngôi của Vũ-Tông Hoàng-đế. Sứ-thần đến, Nhân-Vương đã mất.
(Ở ngôi 15 năm, thọ 53 tuổi, thụy-hiệu Nhân-Vương. Lúc đầu học đạo Phật, thình lình một ngày, thoạt giác-ngô).
Đời thứ năm (tức Anh-Tông):
Anh-Tông kế lập, khiến sứ vào cống, chúc mừng Võ-Tông Hoàng-Đế lên ngôi. Năm Chí-Đại thứ 4 (1311) lại khiến sứ vào cống. Mùa đông năm ấy, triều-đình khiến bọn Nãi-Mã-Thái, Lễ-Bộ Thượng-thư, qua tuyên dụ tờ chiếu lên ngôi của vua Nhân-Tông Hoàng-Đế. Sứ thần đến, Anh-Vương đương đem binh
đi đánh Chiêm-Thành và bắt được vua nước ấy. Đến tháng 6 năm Nhâm-Tý (1312) niên-hiệu Hoàng-Khánh, quân mới trở về, bèn nghênh bái chiếu-thư, khiến sứ cống mừng và dâng biểu xin lỗi. Đầu năm Diên-Hựu (1314) triều-đình cho lễ-vật hồi đáp. Năm Diên-Hựu thứ 6 (1319) Vương tạ thế, thụy-hiệu Anh-Vương.
Đời thứ sáu (tức Minh-Tông):
Minh-Tông nối ngôi. Năm Diên-Hựu thứ 7 (1320) khiến sứ tiến cống. Năm đầu hiệu Chí-Trị (1321), Anh-Tông Hoàng-đế lên ngôi. Minh-Vương khiến sứ tiến cống, mừng lễ đăng-quang. Năm đầu hiệu Thái-Định (1324), khiến Lại-Bộ Thượng-Thư Mã-Hiệp-Mưu, Lang-Trung Dương-Tông-Thụy đem chiếu thư qua dụ. Minh-Vương khiến sứ tiến cống. Năm đầu hiệu Chí-Thuận (1330), lại tiến cống. Năm sau (1331), triều-đình khiến bọn Sát-Chỉ-Ngoả, Lại-Bộ Thượng-thư, qua tuyên chiếu-thư lên ngôi của Văn-Tông Hoàng-đế. Năm sau (1332), khiến sứ tiến cống, mừng lễ đăng-quang. Năm đầu hiệu Chí-Nguyên (1335), triều đình khiến bọn Thiết-Trụ, Lại-Bộ Thượng-thư, qua tuyên chiếu-thư lên ngôi của Hoàng-đế hiện nay. Lúc ấy, Anh-Vương đã truyền ngôi cho con, lui về học đạo, xưng hiệu Thái-Hư-Tử. Phàm những biểu-chương tiến cống còn vẫn dùng tên cũ. Năm Chí-Nguyên thứ 5 (1339) lại khiến sứ tiến cống.
Các Vương-Hầu Nội-Phụ
Trần-Ích-Tắc:
Con thứ 5 của Thái-Vương, thông minh tuấn-tú, có tính hiếu học. Lúc ở nước nhà, được phong tước Chiêu-Quốc-Vương, kiêm chức Đại-tướng-quân, trấn giữa lộ Đà-Giang.
Mùa đông, năm Giáp Thân, hiệu Chí-Nguyên (1284), đại-binh của Trấn-Nam-Vương tiến vào biên-giới, anh là Thế-Tử, đem cả nước chống địch, bị thua chạy.
Năm sau, (1285) Ích-Tắc đem gia-quyến đầu hàng Trung-Quốc. Tháng 5, theo Vương sư về Tàu. Mùa thu vào bệ kiến.
Mùa xuân tháng 2, năm Bính-Tuất hiệu Chí-Nguyên (1286), vua Thế-Tổ thương Tắc có lòng trung hiếu, đặc ân phong cho tước An-nam-vương, quang-lộc đại-phu, ban cấp phù ấn, cho tiền 5.000 quan. Con trưởng tên Bá-Ý, được phong chức Gia-Nghị đại-phu, lĩnh An-Vũ- Sứ lộ Đà-Giang (hư chức), ban cho áo mũ, cung tên, yên cương và ngựa.
Năm Đinh-Hợi (1287) được chi cấp nguyệt-bổng, mùa đông theo quân về nước. Tháng giêng năm sau (1288), đại-binh đánh quốc-đô, Thế-Tử chạy trốn, quan quân tìm đánh không được. Tháng 3, Trấn-Nam-Vương vì viêm-nhiệt và ẩm thấp rút về. An-nam quốc-vương (tức Ích-Tắc) theo đại-quân về đất Ngạc.
Mùa thu vào bệ kiến, được cấp áo nệm và cho tiền một vạn quan. Đến năm Nhâm-Thìn (1292), lại được gia chức Hồ, Quảng Đẳng xứ Hành-Trung-Thư-Sảnh, Bình-Chương Chính-Sự. Năm Quý-Tỵ (1293), mới khiến sứ dâng biểu, mừng tiết Thiên-Thọ. Mùa xuân năm Giáp-Ngọ (1294), đem quân qua đánh nước Nam, nhưng lại bãi binh, về ở Ngạc-Châu. Mùa hạ tháng 4, Thành-Tông hoàng-đế lên-ngôi, vào bệ-kiến, được cho tiền 5 vạn quan.
Năm Tân-Sửu (1301), hiệu Đại-Đức lại vào bệ-kiến, được ban tiền 5 vạn và cho các quan tùy thuộc 5.000 quan. Tháng giêng mùa xuân năm Ất-Tỵ (1305), khiến sứ đến Kinh-đô, dâng thỏ bạch. Vua vời sứ vào đến Ngọc-Đức uỷ-lạo và cho của nội-phủ đại-tử-kim-đoạn hai cây để đáp lễ. Năm Bính-Ngọ (1306) vua
ban cho Ích-Tắc 200 khoảnh ruộng và các thuộc quan bọn An-Phủ-sứ Vương-Nghị 200 khoảnh ruộng.
Mùa thu năm Đinh-Tỵ (1307), Trần-Ích-Tắc khiến Lại-Ích-Qui và Lê-Tắc dâng biểu mừng Vũ-Tông Hoàng-đế lên ngôi. Lúc Hoàng-Thái-Thử chính vị đông-cung, Ích-Tắc có vào yết-kiến. Năm Mậu-Thân, niên-hiệu Chí-Đại (1308), Ích-Tắc được gia-phong chức Ngân-Thanh-Vinh-lộc đại-phu và được ban cho
150 lượng bạc.
Tháng ba mùa xuân năm Tân-Hợi (1311), Nhân-Tông hoàng-đế lên ngôi. Mùa thu Ích-Tắc dâng biểu mừng. Năm Nhâm-Tý (1312) hiệu Hoàng-Khánh, Ích-Tắc vào bệ-kiến được gia-chức Kim tử quang-lợi đại-phu, cho tiền 50.000 quan, đai vàng một chiếc, kim-đoạn bốn cây.
Năm Mậu-Ngọ (1318) hiệu Diên-Hựu, vào bệ-kiến được gia chức Nghi-đồng tam-ty.
Tháng ba mùa xuân năm Canh-Thân (1320) Anh-Tông Hoàng-đế lên ngôi; Ích-Tắc khiến sứ dâng biểu mừng, được ban lễ vật hồi đáp.
Năm Mậu-Thìn (1328), hiệu Thiên-Lịch, Văn-Tông hoàng-đế lên ngôi, dâng biểu mừng, được ban thưởng rất hậu.
Tháng 4 năm sau (1329) Ích-Tắc qua đời, hưởng thọ 76 tuổi, an-táng ở núi Hạ-Gia, đất Hán-Dương. Hồ-Quảng Hành-Tỉnh tâu lên triều-đình, Hoàng-đế thương lòng trung-nghĩa, truy tặng thụy-hiệu TrungÝ-Vương, cho tiền 5.000 quan làm lễ phúng điếu.
 Ích-Tắc tính ưa đạo Phật, Lão, làm thơ hay, có cho ra đời tập thơ Củng-Cực-Lạc-Ngâm 8 . Năm Giáp-Tuất (1334), hiệu Nguyên-Thống, con là Tuyên-vũ-sứ Trần-Đoan-Ngọ, vào bệ-kiến, Hoàng-đế đương-kim khiến tập tước cha làm An-nam quốc-vương, được ân sủng rồi trở về.
Trần-Tú-Viên:
Cháu gọi An-nam quốc-vương bằng bác, con của Vũ-Đạo-Hầu, dáng người thanh tú, có tài văn chương.
Mùa đông năm Giáp-thân, niên-hiệu Chí-Nguyên (1284), đại binh đến An-nam. Mùa xuân năm sau (1285), Tú-Viên khuyên cha mẹ qui thuận. Tháng 4 vào bệ kiến. Lúc bỏ nước ra đi, dọc đường giaquyến bị tử-vong hết tám người, làm thơ ai-điếu có câu:
"Tam thế bát tang thiên-cổ thống,
Nhất thân vạn lý bách niên cô".

nghĩa là:
Ba đời chịu tám tang, đau thương nghìn thuở,
Một mình ngoài muôn dặm, cô quạnh trăm năm.

Tháng 9 đến Kinh-Sư, Hoàng-thượng ngợi khen và xuống chiếu phong làm Phụ-Nghĩa-Công, Tư-Thiện-Đại-phu, cấp hổ-phù, cho tiền 5.000 quan, cho người con là Đứ-Tiệm làm chức Tuyên-vũ-Sứ Annam Phủ-Lộ, Gia-Nghị đại-phu. Người em cô cậu là Lại-Ích-Qui làm chức An-vũ-sứ Nam-Sách Giang-Lộ, Gia-Nghị đại-phu. Năm Ất-Hợi, hiệu Chí-Nguyên (1335), các người đều được cho cung tên, tiền bạc, yên ngựa để đi theo quân qua đánh An-nam. Năm sau, (1336), trở về Hán-Dương. Trấn-Nam-Vương cưới người em gái làm thứ-phi, sinh được hai con. Tháng 5 năm Ất-Sửu 9 hiệu Chí-Nguyên, Tú-Viên mất ở Túy-Sơn? Viên có tập ngâm-cảo truyền đời, lúc đầu ngụ ở Vũ-Xương.
Trần-Văn-Lộng:
Con của Nhân-Thành-Hầu, Trần-Duyệt, cháu nội của quốc-thúc thái-sư Trần-Thủ-Độ, ở nước nhà được phong tước Chương-Hoài-Thượng-Hầu, tính người khiêm tính ôn hoà, được quốc-vương dùng làm đại-tướng, trấn thủ sông Tam-đái. Mùa đông năm Giáp-Thân, hiệu Chí-Nguyên (1284), đại binh của Trấn-Nam-Vương đến An-nam. Năm sau, (1285), Văn-Lộng đem gia-quyến nội-phụ Thiên-triều, được cho làm chức Gia-Nghị đại-phu, Tuyên-Vũ-Sứ Qui-Hoá Giang-Lộ, cho tiền, lụa, cung tên, yên ngựa, theo quân đánh dẹp, hiệu lực có công. Năm Tân-Mão, hiệu Chí-Nguyên (1291), vào triều-kiến được tuyên mệnh thăng Trung-đại-phu, Tuyên-Úy-Sứ Quảng-Tây-đạo, cho tiền 25.000 quan, kim-đoạn hai cây. Năm Bính-Ngọ, hiệu Đại-Đức (1306), đình chỉ cấp lương tháng cho thuộc-liêu, cho ruộng 100 khoảnh để tự dưỡng.
Năm Nhâm-Tý hiệu Hoàng-Khánh (1312), vào yến-kiến, chuyển qua ngạch Chánh-Phụng đại-phu, chức như cũ. Tháng 2 năm sau, (1313), Văn-Lộng mất, chôn ở hồ Mã-Gia đất Hán-Dương, con cháu phụng thờ chẳng dứt.
Trần-Kiện
Con của Tịnh-Quốc-Vương, cháu nội của Thái-Quốc-Vương, ở bản quốc được phong Chương-Hiến Thượng-Hầu, tướng mạo khôi ngô, đọc thuộc binh-thư, giỏi việc bắn cung, cỡi ngựa, thay cha lĩnh chức Tịnh-hải-quân Tiết-Độ-sứ, cưới nàng Quỳnh-Huy, con gái Thái-Sư Chiêu-Minh-Vương, sinh con là Mặc-Hầu.
Năm Giáp-Thân, hiệu Chí-Nguyên (1284), nhân cùng con của Thế-Tử là Tá-Thiên-Vương có hiềm khích, giả thác theo học đạo Trang, Lão, về làng Nhân-Mục ẩn-cư. Mùa đông năm ấy, đại-quân Trấn-Nam-Vương vào nước, Thế-Tử đánh thua. Hữu-Thừa Toa-Đô lại từ Chiêm-Thành đánh tập hậu, Thế-Tử hoảng hốt, không tính được chước gì, bèn khởi phục Trần-Kiện, khiến đem quân cự Toa-Đô. Sức yếu, không có viện binh, Thế-Tử thì mất còn chưa biết, Kiện bảo với bọn Lê-Tắc rằng: "Thế-Tử bị Thiên- Tử chỉ triệu, chẳng chịu vào chầu, đến đỗi gây việc binh đao, nguy-cơ sắp đến, thế mà còn chấp mê, chẳng tỉnh ngộ, nở để cho nhà tan nước mất hay sao?". Tháng giêng năm sau (1285), Kiện đem bọn Lê-Tắc vài vạn người, dâng binh-khí xin hàng. Trấn-Nam-Vương khen ngợi và ban thưởng xiêm áo, yêncương.
Mùa hạ tháng 4, Vương khiến Minh-Lý-Tích-Ban dẫn bọn Chương-Hiến vào ra mắt Thiên Tử. Ngựa trạm đến ải Chi-Lăng, bị quốc dân ngày đêm vây đánh. Bọn Chương-Hiến cùng các quan bồi-bạn phá vòng vây chạy ra đàng trước, lại bị chúng đón đánh, xe cộ chở lương-thực đều bị cướp phá sạch. Chương-Hiến tính người khiêm cung nhã-lượng, đãi kẻ dưới rất có ơn, nhân dân ai cũng thương mến, chẳng may giữa đường tử nạn, không đem được việc mình tâu với triều-đình, chẳng được hưởng ơn điển sinh phong tử tặng. Lúc ở nước ra đi, có bà quốc-mẫu-cô Lê-Thị và mấy người thân quyến cùng đi, đều bị quốc-dân bắt giết, đau đớn biết chừng nào. Chỉ có ông ngoại là thân-huynh của Thế-Tử được thoát chết.
An-Nam Chí-Lược Quyển Đệ Thập Tam Chung
___________________________________________________
Chú Thích:
1- Chị vợ chứ không phải em vợ, tức bà Thuận-thiên Công-chúa, vợ của Trần Liễu.
2- Gấm để may y phục theo pháp-chế.
3- Sứ thần thuộc quốc gọi là bồi thần.
4- Trung Thống chỉ có 4 năm (1260-1263).
5- Trần Thái Tông chỉ làm vua từ năm Ất Dậu (1225) đến năm Mậu Ngọ (1258), cộng 33 năm, ở đây chép 18 là sai.
6- "Thế" có lẽ sai nhầm, các sử sách về Việt Nam chép là "Hoàng".
7- Theo sử ta, thì việc nầy không có.
8- Củng Cực nghĩa là triều cũng ngôi. Hoàng cực, tức qui thuận Hoàng đế nhà Nguyên.
9- Niên hiệu Chí Nguyên không có năm Ất Sửu, có lẽ là năm Kỷ Sửu (1349) mà chép sai, vì chữ "Ất" và chữ "Kỷ" hơi giống nhau.

KÍNH MỜI BÀ CON HỌ TRẦN TOÀN QUỐC

Ai là bà con gia tộc họ Trần , dòng Đế phái và Thánh phái hãy vào đây trao đổi thông tin với tôi xây dựng trang web ngày càng phong phú hơn .

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

HỊCH TƯỚNG SĨ


Ta thường nghe: Kỷ Tín lấy thân chết thay, cứu thoát được vua Cao-đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo che chở được vua Chiêu-vương; Dự Nhượng nuốt than để trả thù cho thầy; Thân Khoái chặt tay để gánh nạn cho nước; Uất Trì Cung một viên tướng nhỏ, còn biết che đỡ Đường-chủ, ra khỏi vòng vây của Thế Sung; Nhan Cảo-Khanh là bầy tôi xa, còn biết mắng chửi Lộc Sơn, không nghe lời dụ của nghịch-tặc. Từ xưa, những bậc trung-thần nghĩa-sĩ, lấy thân theo nước, đời nào là không có đâu? Nếu mấy người kia, chăm chăm học thói dút-dát của con gái trẻ con, chẳng qua cũng đến chết dũ ở dưới cửa sổ, đâu được ghi tên vào trong thẻ tre lụa trắng, danh tiếng cùng trời đất cùng lâu bền?
Các người đời đời là con nhà võ, không biết chữ nghĩa, nghe những chuyện ấy, thảy đều nửa tin nửa ngờ. Thôi thì những việc cổ xưa, hãy để đó không nói đến nữa. Nay ta hãy đem chuyện nước Tống, giống Thát(là chuyện gần đây) kể cho các người cùng nghe: Vương công Kiên là người gì? Nguyễn văn Lập tỳ-tướng của y lại là người gì, chỉ có vòng thành Điếu-ngư nhỏ bằng cái đấu hai người ấy chống nổi toán quân trăm vạn của Mông-kha, khiến cho con dân nước Tống, đến nay hãy còn nhớ ơn. Đường ngột Ngại là người gì? Xích tu Tư tỳ-tướng của y lại là người gì? xông pha lam-chướng trên đuờng muôn dặm, hai người ấy đánh được quân Nam-chiếu trong vài tuần, khiến cho vua chúa giòng Thát nay còn để tiếng!
Huống chi ta với các ngươi, sinh ở buổi rối ren, lớn lên nhằm khi khó nhọc, chính mắt ngó thấy sứ ngụy đi lại, đường xá nghẽn-ngang, chúng múa cái lưỡi cú quạ làm nhục chốn triều-đình, chúng giơ cái thân chó dê, kiêu ngạo với quan tể-phụ; chúng nhờ mệnh lệnh của chúa Mông-Cổ, mà đòi nào ngọc nào lụa, sự vòi vĩnh thật vô cùng; chúng mượn danh hiệu của vua Vân-nam mà hạch nào bạc nào vàng; của kho đụn đã hồ hết Cung-đốn cho chúng giống như đem thịt mà liệng cho cọp đói, sao cho khỏi lo về sau?
Ta thường thì tới bữa quên ăn, giữa đêm vỗ gối, nước mắt tràn xuống đầy mép, tấm lòng đau như bị đâm, vẫn lấy cái sự chưa thể ăn thịt nằm da, nuốt gan uống máu của chúng làm tức. Dẫu cho một trăm cái thân của ta phải đem đốt ở đồng cỏ, một nghìn cái thân của ta phải đem bọc vào da ngựa, ta cũng vui lòng. Các ngươi lâu nay ở dưới cửa ta cầm giữ binh-quyền, thiếu áo thì mặc áo cho, thiếu ăn thì sẻ cơm đỡ, quan nhỏ thì cho lên chức, bổng ít cho thêm lương, đi thủy cấp thuyền, đi bộ cấp ngựa, những khi trận mạc, sự sống thác thầy chung với trò, những lúc mừng khao, tiếng vui cười ai cũng như nấy. So với Công Kiên làm chức thiên-lý, Ngột Ngại ở ngôi phó nhị, có khác gì đâu.
Thế mà các ngươi thấy chủ bị nhục chẳng lấy làm lo, gặp nước bị dơ chẳng lấy làm thẹn, làm tướng nhà nước phải hầu mấy đứa chum mường, mà không có lòng căm hờn, nghe khúc nhạc thờ đem thết một tên ngụy sứ, mà không có vẻ tức giận; kẻ thì chọi gà cho thích, kẻ thì đánh bạc mua vui, có người chỉ chăm vườn ruộng, cốt nuôi được nhà; có người chỉ mến vợ con, lấy mình làm trọng; cũng có kẻ chỉ lo làm giàu làm có, việc quân quốc chẳng thèm đoái hoài, cũng có người chỉ ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc là đam mùi rượu ngọt, hoặc là mê tiếng hát hay.
Một khi giặc Mông đến nơi, thì cựa con gà nòi không thể đâm thủng áo-giáp của giặc; thuật ở bàn bạc không thể đem làm mưu mẹo ở trong quân; vườn ruộng tuy giàu, tấm thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vợ con tuy sẳn, trong đám ba quân khó dùng, của cải tuy nhiều, không thể mua được đầu giặc; chó săn tuy khỏe, không thể đuổi được quân thù, rượu ngon không đủ để cho giặc phải mê; hát hay không đủ làm cho giặc phải điếc; lúc đó thầy trò ta sẽ cùng bị trói, đáng đau đớn biết chừng nào! Nếu thế, chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng bị kẻ khác chiếm mất; chẳng những là gia- quyến của ta phải đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc của tổ tông ta sẽ bị dày xéo, mà đến mồ mả của cha mẹ ngươi cũng sẽ bị kẻ khác đào lên, chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, và trăm kiếp khác tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu vẫn còn, mà gia thanh của các ngươi cũng chẵng khỏi mang tiếng là nhà bại tướng. Đã đến khi đó các ngươi muốn chơi bời cho thỏa, được chăng?
Nay ta bảo rõ các ngươi: cái chuyện dấm lửa đống củi phải lo, mà câu sợ canh thổi rau nên nhớ. Các ngươi hãy nên huấn luyện quân-sĩ, rèn-tập cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, bêu đầu Tất-Liệt dưới cửa khuyết, ướp thịt Thoát-Hoan trong trại rơm. Như thế chẳng những là thái-ấp của ta mãi mãi là của gia truyền, mà bổng-lộc các ngươi cũng được suốt đời hưởng thụ; chẳng những gia- quyến của ta được yên giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng được sum họp đến già; chẳng những là tông-miếu ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các người dưới trăm đời nữa tiếng thơm vẫn lưu truyền; chẳng những tên tuổi ta không bị mai một, mà đến tên họ các người cũng để tiêng thơm trong sử xanh. Khi ấy các ngươi không muốn vui chơi, được chăng?
Nay ta lựa chọn binh pháp các nhà, làm một quyển sách, đặt tên là sách "Binh-thư yếu-lược". Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách ấy, nghe lời dạy-bảo của ta, ấy là duyên thầy trò kiếp xưa; Nếu các ngươi bỏ bê sách ấy, trái lời dạy-bảo của ta, ấy là mối cựu thù kiếp xưa, Sao vậy? Bởi vì như vậy tức là kẻ thù không đội chung trời, thế mà các ngươi không nghĩ tới, điềm nhiên không lo đến sự rửa thẹn, không tinh; đến việc trừ hung, không nhớ đến chuyện dạy-tập quân-sĩ. Thế là giở giáo hàng giặc, nắm tay chống giặc. Rồi đây, sau khi dẹp yên quân giặc, các ngươi sẽ phải thẹn muôn đời, còn mặt-mũi nào đứng giữa khoảng trời đất che chở? Ta muốn các ngươi biết rõ bụng ta, nhân viết mấy lời đó làm hịch.
Kìa Kỷ tín, Do-vu thủa trước,
   Liều một mình thoát được nạn vua.
     Nuốt than Dự-nhượng báo thù,
Chặt tay, Thân-khoái đền bội quốc-ân.
   Đường Kính-đức đem thân cứu chúa,
   Nhan Tường-khanh mắng quở nghịch thần.
     Từ xưa nghĩa sĩ trung thần,
Đã lòng vị nước biết thân là gì!
   Nếu cứ giữ nữ-nhi thường thái,
   Chỉ khu khu biết cái thân mình,
     Ở đời một cõi phù sinh,
Còn đâu là tiếng hiển vinh đến rầy?
   Thôi chẳng kể việc ngày tiền cổ,
   Hãy xem ngay kia việc rõ Tống, Nguyên.
     Kìa như Nguyễn-lập Vương-kiên,
Điếu-ngư thành ấy quân quyền được bao?
   Đương trăm vạn ào ào quân giặc,
   Giữ cho dân nay được hàm ân.
     Ngột-lương một chức võ thần,
Tu-tư, tỳ tướng xuất thân đó mà!
   Đường muôn dặm xông pha chướng dịch,
   Trong vài tuần quét sạch Vân-Nam,
     Lập công tuyệt vực đã cam,
Khiến cho vua chúa tiếng thơm để đời,
   Nay gặp buổi trong thời nhiễu loạn,
   Ta cùng ngươi đương đoạn gian truân
     Nghĩ sao sánh với cổ-nhân,
Cũng nên hết bụng trung quân mới là!
   Kìa thử ngắm sự nhà Mông-cổ,
   Sứ vãng lai nhặng bộ xôn xao,
     Cú diều uống lưỡi thấp cao,
Bẻ bai triều bệ xiết bao nhục nhằn,
   Tuồng dê chó cậy rằng đắc thế,
   Chốn triều-đường ngạo nghễ vương công.
     Cậy tay Tất-liệt anh-hùng,
Bạc vàng biết mấy cho cùng dạ tham?
   Lại ỷ thế Trấn-nam hống hách,
   Định sang ta vét sạch của ta,
     Thịt đâu hoài thịt ném ra,
Ném cho hổ đói chắc đà khỏi lo?
   Nghĩ đến sự rầy vò xấu hổ,
   Ngày quên ăn đêm ngủ không an.
     Vỗ mình thổn thức canh tàn,
Chạnh đau khúc dạ, chảy ràn giọt châu
   Ăn gan ấy mời hầu thỏa dạ,
   Uống huyết kia mới hả giận này.
     Ví dù gan nát óc lầy,
Cho rằng da ngựa bọc thây cũng đành,
   Hỡi chư tướng cầm binh dưới trướng,
   Cơm áo vua an hưởng bao lâu.
     Chúa lo không biết âu sầu,
Hầu quân Mông-cổ không mầu hổ ngươi.
   Hết cờ bạc, vui chơi gà chọi,
   Thôi rượu chè, lại ngõi hát hay.
     Vợ con quấn quít đêm ngày,
Ruộng vườn chăm chút riêng tây của nhà.
   Việc quân quốc ví mà biếng nhác,
   Cuộc chơi săn đã chắc vui không?
     Giặc Nguyên phỏng lại đùng đùng,
Lấy gì chống giữ hay cùng cam tâm?
   Cựa gà sắc không đâm giáp giặc,
   Mẹo bạc gian khó đạc mưu quân!
     Vợ con thêm bợn vướng chân,
Ruộng vườn không chuộc cái thân nghìn vàng!
   Đầu giặc há có vàng mua được,
   Sức chó săn đuổi được giặc sao?
     Rượu ngon giặc chẳng lao đao,
Hát hay giặc chẳng hơi nào điếc tai;
   Nếu đến lúc vua tôi mắc nạn,
   Nhà các ngươi gia sản cũng tan.
     Các ngươi nên phải lo toan,
Húp môi canh nói, nằm giàn lửa thiêu.
   Quân sĩ phải hết chiều dạy dỗ,
   Rèn tập nghề cung, nỏ, qua, mâu.
     Quyết tình giết giặc treo đầu,
Đem công phá lỗ về tâu Triều-đình.
   Được như thế ta vinh đã vậy,
   Các ngươi cùng nổi dậy tiếng hay,
     Vậy nên có quyển thư này
Truyền cho các tướng đêm ngày chuyên coi.
   Nếu biết nghĩ mà noi nhời bảo,
   Ấy thầy trò hòa hảo một nhà,
     Ví dù trái bỏ nhời ta,
Dẫu trong tôi tớ cũng ra cừu thù.
   Bởi Mông-cổ là thù của nước,
   Không chung giời ở được cùng nhau.
     Các ngươi sao chẳng xót đau.
Bấm gan chịu nhục cúi đầu làm thinh.
   Lại không dạy quân binh cho biết,
   Lâm giặc vào chịu chết bó tay.
     Mai sau bình định có ngày,
Muôn đời để tiếng mặt giầy thế gian,