Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012


Kỳ bí Rắn Thần trong 3 gò mộ to như núi ở Thái Bình

Nhà nghiên cứu Đặng Hùng và hai thanh niên đã chạy bán sống bán chết, trèo tót lên khỏi hầm mộ, bởi từ các ngóc ngách, khe kẽ, rắn độc túa ra phì phò đuổi người cứ như trong phim kinh dị.

Đã nửa cuộc đời, nhà nghiên cứu lịch sử Đặng Hùng (Hội Văn học nghệ thuật Thái Bình) dành tâm huyết cho việc nghiên cứu về đời Trần, đặc biệt là thời kỳ nhà Trần ở Thái Bình. Vậy nên, năm nào cũng vậy, cứ đến cuối năm, ông Hùng lại về làng Tam Đường (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình) thắp hương ở đền thờ, thăm viếng phần mộ các vị vua Trần, trước khi ra mộ tổ tiên mình.
Đền thờ các vị vua Trần ở làng Tam Đường (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình). 
Tôi đã từng có nhiều năm theo chân nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành (nguyên giám đốc Bảo tàng Hải Dương) đi đào mộ cổ, đặc biệt là những ngôi mộ Hán, chủ yếu gồm mộ xây gạch và mộ xếp cũi gỗ ở vùng Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh.
Mộ Hán là tên gọi chung một số loại mộ xây vào thời Bắc thuộc ở nước ta. Loại hình mộ này còn kéo dài đến thời Trần, nhưng thời này quy mô nhỏ hơn.
Một ngôi mộ vua Trần to như quả đồi ở làng Tam Đường. 
Những ngôi mộ của quan lại, nhà giàu, vốn đắp to như quả đồi, nhưng trải mưa nắng mài mòn hàng ngàn năm, con người tàn phá, biến động địa chất, mà giờ đây, nó chỉ còn như cái gò đống, lùm đất giữa cánh đồng mà thôi. Những gò mộ ấy vẫn còn rải rác ở các cánh đồng vùng đồng bằng Bắc Bộ, tương đối nhiều ở Hải Dương. Dù đã được tận mắt nhiều gò mộ Hán khổng lồ, song tôi vẫn thực sự choáng ngợp trước ba gò mộ ở làng Tam Đường (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình). Ba gò mộ uy nghi giữa cánh đồng lúa rộng mênh mông. Có lẽ, đây là những gò mộ cổ lớn nhất từng được biết đến ở nước ta.
Ông Cường bên ngôi mộ được gọi là Phần Bụt. 
Chúng ta vẫn biết đến Thái Bình là tỉnh duy nhất ở nước ta không có đồi núi, nhưng đứng trước ba ngôi mộ này, có lẽ phải xem xét lại. Bởi vì, ba gò mộ ấy đúng là ba quả đồi. Quả là một công trình vĩ đại của thời Trần.
Ông Cường, Phó ban quản lý di tích đền Trần tại Tam Đường dẫn chúng tôi lên gò mộ mà người dân gọi là Phần Bụt. Đứng dưới chân gò mộ, càng thấy công trình mồ mả thực là vĩ đại. Chưa ai đo đạc những ngôi mộ này, nhưng theo ước tính của nhà nghiên cứu Đặng Hùng, thì diện tích tính dưới chân đế của nó cũng phải đến vài mẫu.
Ngay dưới chân mộ, một nhóm chị em phụ nữ đang miệt mài cắt cỏ. Ngày giáp Tết, người dân đi tảo mộ tổ tiên, thường dọn cỏ sạch sẽ, nhưng với ba gò mộ khổng lồ này, thì nhân công dọn cỏ quanh năm suốt tháng.
  
Một chị bảo, với 5 nhân công, thì phải cắt cỏ liên tục một tuần mới xong được một gò mộ. Mỗi gò mộ thu được mấy chục tấn cỏ. Không hiểu sao, cỏ ở những gò mộ này lại tốt đến thế, chẳng chăm bón gì mà cứ tốt bời bời, cao đến thắt lưng. Chị em nhân công dọn cỏ cứ cắt theo lối, như kiểu người nông dân Bắc Bộ gặt lúa thành hàng, rồi xoáy trôn ốc dần lên đến đỉnh mộ. Dọn đến đỉnh mộ thì ở dưới chân mộ cỏ đã lại xanh rờn. Vậy nên, cứ dọn cỏ xong phần mộ thứ 3, thì lại chuẩn bị cho cuộc dọn cỏ ngôi mộ đầu tiên. Việc dọn cỏ của chị em nhân công quanh năm suốt tháng không ngừng nghỉ. Nếu không dọn cỏ thì phần mộ của các vị vua sẽ thật thảm hại, trông như núi cỏ khổng lồ. Có một cách dọn cỏ rất nhanh và hiệu quả, đó là phun thuốc diệt cỏ. Thế nhưng, chẳng ai dám cho phép đem thuốc độc phun vào mộ vua.
Lăng mộ vua Trần Dụ Tông ở An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh) thật thảm hại. 
Cũng không ai được phép đưa máy cắt cỏ đến, vì tiếng nổ sẽ làm kinh động nơi yên nghỉ của vua. Mọi việc liên quan đến những gò mộ này đều phải làm thủ công. Riêng việc dọn cỏ cho ba “quả núi” này cũng là một kỳ công.
Ông Cường đứng dưới chân mộ khấn vái, xin phép các vua Trần cho phóng viên được trèo lên mộ. Tôi vạch cỏ trèo lên, đứt cả hơi mới lên đến đỉnh mộ. Đứng trên nóc mộ vua, nhìn thấy làng mạc bốn phương, thấy cả đê sông Hồng phía xa.
Tôi trộm nghĩ, nếu để cho đám thợ săn chuột đào bới, thì có thể tóm được cả tấn chuột ở một ngôi mộ. Chuột đào nham nhở gò mộ, tạo thành những đống mà (đất do chuột moi ra) to tướng. Các nhân công lại phải hì hục vun đất đắp lại.
Lăng mộ vua Trần Anh Tông (An Sinh, Đông Triều, Quảng Ninh) bị phá nát hoàn toàn và bị nước hồ Trại Lốc nhấn chìm vào mùa mưa.
Chị em nhân công cắt cỏ kể cho tôi nghe về chuyện gặp những con chuột to như con mèo cắn nhau chí chóe ngay trước mặt các chị. Vì không ai được phép lên gò mộ đào hang bắt chúng, nên chúng cũng dạn người, nô đùa ngay trước mắt các chị. Ở các gò mộ này có rất nhiều chuột đất và chuột cống. Người Thái Bình gọi chuột cống là một loại chuột rất lớn, nặng trên dưới 1 kilogam, chuyên ăn gà, vịt, chim chóc, chứ không phải gọi chung cho các loài chuột sống dưới cống ở đô thị. Chuột đất cũng là loại chuột to, nặng ngót 1 kilogam, có màu xám. Hai loại chuột này là đặc sản của quê lúa, thịt rất thơm ngon, được bán ở chợ với giá 200 ngàn đồng/kg. Tuy nhiên, do bị săn bắt nhiều, nên hiện tại hai giống chuột này khá hiếm. Chuột lắm thì rắn độc ắt sẽ nhiều. Người dân trong làng Tam Đường ít khi dám trèo lên những gò mộ này. Hang hốc nhiều, cỏ rậm rạp lút gối, nên chuyện dẫm phải rắn độc và bị đớp rất dễ xảy ra. Người dân trong vùng vẫn thường xuyên tóm được rắn độc khi chúng bò ra từ những gò mộ này.
Ban thờ vua Trần Nhân Tông ở đền Trần (Thái Bình). 
Cũng có nhiều người bị rắn độc ở các gò mộ cắn và trúng độc. Chuyện chết người cũng đã từng xảy ra. Thậm chí, từ xưa đến nay, người dân không dám thả trâu đến gần gò mộ. Bởi vì, trâu đến chân gò mộ ăn cỏ thường xuyên bị rắn độc cắn chết. Theo những người có kinh nghiệm, chỉ có rắn hổ chúa mới đủ lượng độc tố giết chết trâu. Giới săn rắn nhìn những gò mộ này mà thèm thuồng, nhưng chẳng ai cho phép họ được đào mộ vua để bắt rắn, nên đành chịu.
Nhà nghiên cứu Đặng Hùng vẫn còn nhớ như in cái lần lò dò mò xuống một hầm mộ sau khi người dân đào bới làm lộ ra. Với sự giúp đỡ của hai thanh niên, ông Hùng đã đốt đuốc chui xuống hầm mộ nghiên cứu.
Ông Hùng sung sướng đến chết lặng khi dạo trong đường hầm kè đá, gỗ uy nghi trong lòng mộ. Tuy nhiên, ông và hai thanh niên đã chạy bán sống bán chết, trèo tót lên khỏi hầm mộ, bởi từ các ngóc ngách, khe kẽ, rắn độc túa ra phì phò đuổi người cứ như trong phim kinh dị. Người dân trong làng tin rằng có Thần Rắn bảo vệ nơi yên nghỉ của các vị vua, nên không ai dám xuống hầm nữa. Đến năm 2000, sau khi họp bàn, người dân trong làng đã lấp hầm mộ lại, một là để người dân không tò mò chui vào bị rắn độc cắn, hai là để vua Trần được yên nghỉ.

Ứng xử thế nào với lăng mộ các vua Trần

Sau khi thống kê hàng loạt thảm kịch rùng rợn liên quan đến những người đào phá mộ vua Trần Nghệ Tông, ông Hồng mệt mỏi vào giường nghỉ. Vợ ông Hồng dẫn tôi đi xem ngôi mộ ở xóm Mới (thôn Bãi Dài, An Sinh, Đông Triều, Quảng Ninh), cách nhà bà không xa. Theo vợ chồng ông Hồng, một số người dân sống quanh ngôi mộ này cũng toàn gặp chuyện xui xẻo, không bệnh tật thì cũng chết chóc khó hiểu.

Lăng mộ nằm trên một bãi đất rộng, hơi khum, người dân gọi là Đống Tròn. Người dân trong xóm chỉ biết đây là mộ vua, còn mộ ông vua nào, ở thế kỷ bao nhiêu thì họ chịu. Sau này, lục lại các tài liệu cổ, tôi mới biết khu vực mồ mả trên Đống Tròn chính là lăng mộ của vua Trần Dụ Tông.

Ung xu the nao voi lang mo cac vua Tran? (ky 7)
Phế tích lăng mộ vua Trần Dụ Tông.

Trần Dụ Tông là vua thứ 7 của nhà Trần. Ông lên ngôi năm 6 tuổi, ở ngôi 28 năm. Đại Việt sử ký toàn thư ghi: Ông mất ngày 25 tháng 5 năm 1369 ở chính tẩm, thọ 34 tuổi. Mùa đông, tháng 11 táng Dụ Tông vào Phụ Lăng ở Yên Sinh.

Mặc dù chưa tiến hành khai quật, nhưng qua quá trình khảo sát sơ lược, các nhà khoa học thấy rằng, toàn bộ diện tích đất thuộc lăng (qua các dấu tích hiện vật) rộng gần 1 héc-ta. Như vậy, lăng mộ vua Trần Dụ Tông cũng rất lớn. Tuy nhiên, cũng như những lăng mộ vua Trần khác, Phụ Lăng đã đổ nát hoàn toàn. Tôi chỉ còn thấy một ít di vật, vài chiếc chân cột, gạch, ngói thời Trần nằm ngổn ngang, rải rác trên mặt đất.
Ung xu the nao voi lang mo cac vua Tran? (ky 7)
Di vật tràn ngập trên mặt đất.

Toàn bộ khu vực từng là lăng mộ vua Trần Dụ Tông đã được giao cho 4 hộ gia đình xây dựng nhà cửa, làm vườn. Khu trung tâm lăng mộ nằm trọn trong mảnh đất thổ cư, có sổ đỏ đàng hoàng của gia đình ông Đỗ Văn Tư. Tại khu lăng mộ, ông Tư trồng vải, trồng mít tốt um tùm.

Trong số những lăng mộ vua Trần ở An Sinh, có lẽ lăng mộ vua Trần Dụ Tông là ấm cúng nhất. Nói là ấm cúng vì người dân đã dựng một ngôi miếu nhỏ bằng đất, có mai che bằng phi-brô-xi-măng, che mưa hắt nắng chiếu. Thi thoảng người dân vẫn ra ngôi miếu nhỏ này hương khói. Theo vợ ông Hồng, mấy năm trước, một người trong xóm đào mương dẫn nước qua mộ, vài hôm sau lăn đùng ra chết, nên người dân trong xóm rất sợ, rủ nhau đắp miếu thờ cúng cẩn thận.
Ung xu the nao voi lang mo cac vua Tran? (ky 7)
Người dân lập miếu thờ cúng vua Trần Dụ Tông.

Trong số các lăng mộ vua Trần ở vùng An Sinh ngày nay và Yên Sinh khi xưa, có lẽ duy nhất lăng mộ vua Trần Hiến Tông là được chăm chút, thờ cúng cẩn thận.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Ngày 15 tháng 8 năm Mậu Thân (1344) táng vào An Lăng ở Kiến Xương”. Năm 1381, lăng mộ Trần Hiến Tông được đưa về Yên Sinh, táng vào Ngải Sơn Lăng.

Theo Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ, thì lăng Ngải Sơn có rất nhiều tượng đá, gồm voi đá, trâu đá, ngựa đá, hổ đá, người đá, rồng đá…
Ung xu the nao voi lang mo cac vua Tran? (ky 7)
Ngải Sơn Lăng được xây dựng lại năm 2002.

Theo sử sách, lăng mộ vua Trần Hiến Tông vốn rộng 1 héc-ta, song hiện tại, diện tích đất của lăng được chia cho các hộ dân làm nhà, làm vườn trồng trọt, canh tác.

Theo ông Hà Duy Cầu, người trông nom hương khói lăng mộ, khi người dân quanh khu vực cuốc đất làm vườn, thì thường xuyên cuốc phải gạch đá nằm dưới lòng đất, chỉ cần đào xuống lòng đất nửa mét, sẽ bới lên được cả đống gạch đá cổ.

Công trình lăng mộ này cũng bị đổ nát từ lâu rồi. Năm 2002, Công ty Than Mạo Khê đã đầu tư kinh phí xây dựng miếu thờ và ngôi mộ mô phỏng trên diện tích 1000 mét vuông.
Ung xu the nao voi lang mo cac vua Tran? (ky 7)
Duy nhất lăng mộ vua Hiến Tông được hương khói đều đặn.

Vì có lăng mộ, có nơi thờ cúng, hương khói, nên hàng năm, xã An Sinh đều tổ chức giỗ vua ngay tại khuôn viên lăng mộ.

Mặc dù lăng mộ được xây dựng lại khang trang, song những di vật còn lại thì thật thảm hại, vứt ngổn ngang, chỏng chơ ngoài góc sân, gốc cây.

Rùa đá thì mất đầu, thân gẫy đôi. Hai pho tượng đá quan hầu rất quý trong tư thế đứng, hai tay chắp trước ngực, được tạo tác bằng chất liệu đá xanh, đều bị cụt đầu, một pho gãy đôi. Các loại tượng linh thú đặc biệt thời Trần như voi đá, ngựa đá, chó đá cũng đều rụng đầu, gãy ngang thân. Theo ông Nguyễn Hữu Tâm, người sống ngay cạnh lăng mộ, thì đó là kết quả của các cuộc tìm kiếm, đào bới kho báu. Đám săn kho báu đã đập vỡ các pho tượng này hòng tìm kiếm vàng bạc bên trong.
Ung xu the nao voi lang mo cac vua Tran? (ky 7)
Bọn truy tìm kho báu đã đập nát các pho tượng.

Ông Tâm dẫn tôi đi vòng sang ngõ khác để đến một khu vườn của dân, được ngăn cách với lăng mộ bằng bức tường gạch rất cao. Giữa khu vườn na này, có một rùa đá khổng lồ. Ước chừng rùa đá dài gần 2m, rộng hơn mét, dày 0,4 mét và nặng vài tấn. Rùa đá còn khá nguyên vẹn, chỉ mất phần chỏm đầu mà thôi. Rùa đá nằm trên đế gắn bằng sỏi và có lẽ đã nằm đó hơn 600 năm rồi. Vì rùa quá lớn và nặng, nên không dễ gì di chuyển được.

Theo lời người dân, chính quyền đã có chủ trương giải phóng 7 hộ gia đình ở xung quanh lăng mộ vua Trần Hiến Tông để làm công tác khảo cổ, phục dựng lăng mộ. Tuy nhiên, chưa biết đến khi nào việc này mới được thực hiện.
Ung xu the nao voi lang mo cac vua Tran? (ky 7)
Tượng đá ở Ngải Sơn Lăng.

Qua tìm hiểu, tôi thấy rằng, trong vài năm trở lại đây, đã có rải rác vài cuộc khai quật khảo cổ của Viện Khảo cổ học phối hợp với Ban Quản lý các di tích trọng điểm Quảng Ninh. Tuy nhiên, các cuộc khảo cổ mới chỉ dừng lại ở việc thăm dò quy mô, hiện trạng một số di tích mà thôi. Trong số các lăng mộ, mới chỉ có lăng Đồng Thái (Trần Anh Tông) và lăng Tư Phúc là được khai quật sơ bộ vào năm 2009. Ngay sau khi khai quật, các nhà khảo cổ lại lấp đất giữ nguyên hiện trạng. Từ đó đến nay, không thấy có thêm cuộc khai quật nào nữa.
Ung xu the nao voi lang mo cac vua Tran? (ky 7)
Rùa đá khổng lồ của Ngải Sơn Lăng.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Thị Khánh Duyên (BQL các di tích trọng điểm Quảng Ninh), Đông Triều xưa là dải đất gắn liền với quê hương, với những chiến công, những thắng lợi và những công trình văn hóa đồ sộ của nhà Trần, một nơi đã từng được coi là “Triều đình ở phía Đông”. Giờ đây, các công trình ở Đông Triều chỉ còn là phế tích, đã vùi sâu trong lòng đất, do đó, chỉ có qua công tác khảo cổ mới tìm được câu trả lời. Để bảo tồn, tôn tạo và phát huy các di sản văn hóa nhà Trần ở Đông Triều, BQL các di tích trọng điểm, cũng như chính quyền tỉnh Quảng Ninh cần sự giúp đỡ của các nhà khảo cổ, sử học và đây còn là quá trình phức tạp.
Ung xu the nao voi lang mo cac vua Tran? (ky 7)
Ngôi mộ mô phỏng trong lăng Hiến Tông.

Nhà nghiên cứu Đinh Kiều Sơn (BQL các di tích trọng điểm Quảng Ninh) đưa ra các bước cụ thể để bảo tồn, trùng tu, phát huy giá trị di tích về sau này. Trước mắt cần tiến hành điều tra khảo sát và khai quật thám sát khảo cổ học nhằm xác định phạm vi phân bố của di tích, rồi tiến hành khoanh vùng bảo vệ. Tiếp đó, cần tiến hành nghiên cứu làm rõ tính chất di tích, di vật nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích.
Ung xu the nao voi lang mo cac vua Tran? (ky 7)
Rùa đá bị chặt mất đầu và đập gãy đôi.

Theo ông Sơn, sau khi tôn tạo di tích, sẽ khoanh vùng di tích rồi kết nối thành hệ thống và mở rộng với các khu vực Ngọa Vân, Hồ Thiên, Quỳnh Lâm cũng như với Yên Tử, tạo thành một không gian văn hóa Trần rộng lớn ở khu vực Đông Bắc Tổ quốc. Từ đây, sẽ kết nối với Chí Linh (Hải Dương) và Hạ Long (Quảng Ninh) tạo thành một tuyến du lịch liên hoàn.

Với những giá trị to lớn của di tích các lăng mộ và khối lượng công việc đồ sộ, cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước. Do đó, việc xây dựng quy hoạch cũng cẩn phải tiến hành song song với việc xây dựng Dự án đầu tư trình Chính phủ phê duyệt.

Có thể nói, việc trùng tu, tôn tạo lăng mộ các vua Trần còn là quá trình rất lâu dài, thời gian có thể tới cả chục năm. Tuy nhiên, trong lúc chờ dự án được phê duyệt, chờ các nhà khoa học nghiên cứu, tranh luận, chúng ta có nên nhẫn tâm để các vị vua Trần phải chịu cảnh hương tàn hoang lạnh như thế này không?

Phạm Ngọc Dương

Con lợn vàng và cuộc đào phá mộ vua lấy sỏi xây nhà
Ông Tuyên trói chú lợn con này lại rồi xách về nhốt trong nhà. Lạ thay, sớm hôm sau, con lợn biến thành cục vàng! Tuy nhiên, ngay hôm đó, ông Tuyên lăn ra ốm, nằm liệt giường liệt chiếu, cấm khẩu.

Người dân Tam Đường (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình) ai cũng biết câu “Tiền tam thai, hậu thất tinh” và theo lý giải của họ, câu nói ám chỉ phía trước làng có 3 gò mộ, còn phía sau làng có 7 gò mộ, người dân gọi là khu mả vua.
Tuy nhiên, 7 gò mộ ở cánh đồng sau làng nhỏ hơn những gò mộ trước làng, nên trải thời gian mưa nắng mài mòn, cùng với sự phá hủy của con người đã biến mất hoàn toàn.
Lăng Tư Phúc ở Quảng Ninh thờ 3 vị vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Giản Định giờ chỉ còn thế này. 
Phía trước làng, tức phía Nam gồm có 3 gò mộ rất lớn. Chếch lên phía Bắc còn có một gò nữa, chỉ nhỏ hơn một chút. Mỗi gò mộ có tên riêng, đó là Phần Cựu, Phần Bụt, Phần Trung và Phần Đa, là nơi đặt cốt các vị vua Trần.
7 ngôi mộ nhỏ hơn ở phía sau làng, là nghĩa địa chôn Trần Kinh, Trần Hấp, Trần Lý, Trần Thừa cùng các công chúa, hoàng hậu thời Trần.
Về câu nói “Tiền tam thai, hậu thất tinh”, nhà nghiên cứu Đặng Hùng lại có cách lý giải hơi khác. Theo ông, đất Ngự Thiên (phủ Long Hưng) xưa được người đời truyền tụng là đất mả sao. Đó là các gò đống nổi lên, ở trên có các chòm cỏ xanh hình tròn, đường kính độ 1 mét, từ xa nhìn lại trông không khác gì các ngôi sao ở trên trời.
Đền Trần ở Thái Bình. 
Vì thế đất có đặc điểm đó, nên còn có tên là hương Tinh Cương. Tinh có nghĩa là ngôi sao, Cương có nghĩa là gò đất nổi cao lên. Qua quá trình phù sa bồi đắp, đất Tinh Cương xưa có hình thế (theo cách gọi của các thầy địa lý Tàu) “Tiền tam thai, hậu thất tinh”, là đất phát tướng, phát vương.
Nếu theo cách lý giải của ông Hùng, thì cái hình thế “Tiền tam thai, hậu thất tinh”, ám chỉ các gò đất có trước thời Trần (hình thế đẹp nên tổ tiên nhà Trần mới mang mộ về đặt), hoặc câu đó không ám chỉ những gò mộ, mà ám chỉ thế đất.
Các cụ già người Tam Đường thì nhất nhất khẳng định câu nói đó ám chỉ các gò mộ. Theo các cụ, những năm 60 của thế kỷ trước, phía sau làng, gần sông Thái Sư vẫn còn các gò đất lớn. Dân làng đã phát động phong trào phá gò đống để mở rộng ruộng đồng. Quá trình san mộ làm ruộng cũng phát hiện quách đá, quách gỗ trong các gò đống. Thập kỷ 70, các nhà khoa học vẫn đào bới ở khu vực đó để tìm dấu tích các gò mộ.
Một ngôi mộ phía trước làng Tam Đường có tên là Phần Trung. 
Trong quá trình tìm hiểu về những gò mộ khổng lồ ở làng Tam Đường, tôi được nghe nhiều câu chuyện ly kỳ về “quả núi” có tên Phần Cựu. Đây là ngôi mộ lớn nhất ở làng, lớn gấp đôi những phần mộ còn lại. Tuy nhiên, người dân trong làng Tam Đường lại ít gọi bằng cái tên này, mà họ gọi là Phần Lợn. Chẳng lẽ người dân lại… xúc phạm vua bằng cách gọi như thế?
Chuyện rằng, vào thập kỷ 50 của thế kỷ trước, ông Tuyên là người chuyên nghề bắt rắn, đi soi cá lúc nửa đêm về sáng ở cánh đồng làng, bỗng gặp đàn lợn con nhởn nhơ… gặm cỏ. Ông cầm nơm (dụng cụ để bắt cá) đuổi theo và úp được một con. Những con lợn trong đàn sợ quá chạy te tua về phía Phần Cựu là lẩn hết vào những bụi cỏ, tìm mãi không thấy.
Ông Tuyên trói chú lợn con này lại rồi xách về nhốt trong nhà. Lạ thay, sớm hôm sau, con lợn biến thành cục vàng! Tuy nhiên, ngay hôm đó, ông Tuyên lăn ra ốm, nằm liệt giường liệt chiếu, cấm khẩu.
Gia đình sợ quá đi xem bói, thì thầy nào cũng phán đó là lợn thần, phải trả ngay. Lập tức, gia đình mang cục vàng chôn vào một chỗ bí mật trên gò mộ. Ông Tuyên tỉnh táo dần, rồi khỏe mạnh như thường.
Ông Tuyên mới mất năm 2005. Lúc còn sống, ông vẫn kể chuyện này cho mọi người nghe với thái độ rất nghiêm túc. Người dân trong làng Tam Đường đều biết đến câu chuyện của ông.
Cổng tam quan khổng lồ mới được xây dựng ở đền Trần. 
Ông Cường, Phó ban quản lý khu di tích đền Trần chỉ cho tôi biết nơi từng có một “quả núi”, có tên Phần Cựu. Theo ông Cường, xưa kia, “quả núi” này cao vượt ngọn tre của làng. Gò mộ cao và to đến nỗi, có năm vỡ đê sông Hồng, nước dâng ngập nóc nhà, người dân trong làng kéo hết lên nóc ngôi mộ này lánh tạm. Cả làng dựng lều, nấu nướng, sống một thời gian dài trên đỉnh ngôi mộ.
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, bộ đội ta còn mở đường để kéo pháo đặt trên đỉnh ngôi mộ này để bắn máy bay Mỹ cho… gần. Ngôi mộ cũng biến thành nơi bộ đội, dân quân tập luyện làm quen với môi trường núi non. Những tấm bia tập bắn được dựng lên dưới chân và lưng chừng mộ. Dân quân và bộ đội cứ tha hồ bắn mà không sợ đạn lạc đi nơi khác, bởi đã có “quả núi” án ngữ phía sau những tấm bia.
Thời kỳ đó, dù dân làng vẫn truyền miệng đây là những ngôi mộ vua, song không ai thờ cúng, không ai quản lý, nên chỉ coi đó là những quả núi đất bình thường. Trong quá trình bộ đội, dân quân và người dân đào đường dắt pháo lên gò mộ, rồi đào hầm trú ẩn, đã phát hiện ra những quách đá, quách gỗ, đường hầm trong mộ.
Sỏi được luyện với đất sét để đắp mộ. 
Phát hiện ra mộ cổ, các nhà khoa học ở trung ương đã về khai quật. Khi đó, nhà khảo cổ Nguyễn Lân Cường còn trẻ, ăn dầm ở dề cả tháng để cùng các giáo sư, tiến sĩ đào bới, nghiên cứu. Vì có thời gian ở Tam Đường lâu, nên ông Cường đã quen biết và lấy thôn nữ trong làng làm vợ. Ông thành rể Tam Đường.
Theo lời đồn của người dân thì các nhà khoa học đã mang đi không biết bao nhiêu đồ cổ thu thập được từ ngôi mộ này. Hiện Bảo tàng Thái Bình vẫn còn cất giữ bí mật nhiều đồ quý. Có thể, sau này các cổ vật sẽ được đưa về Tam Đường để du khách được chiêm ngưỡng.
Các nhà khoa học rút đi, ngôi mộ lại bỏ hoang phế. Điều đáng quan tâm là ngôi mộ này là một núi sỏi khổng lồ. Thời Trần, người ta đã chở hàng vạn tấn sỏi cuội từ Ninh Bình về đây, luyện với đất sét rồi đắp ngôi mộ thành quả núi.
Mộ các vị vua Trần được xây quây bằng gạch để tránh sự xâm phạm của con người. 
Việc trộn đất sét với sỏi cuội sẽ khiến ngôi mộ được bền bỉ trước sự tàn phá của thiên nhiên, con người. Trải 700 năm, chiến tranh, con người tàn phá, đình đền, hoàng thành đổ nát, song những gò mộ vẫn đứng sừng sững. Quả là một công trình kỳ công, vĩ đại.
Thập kỷ 80, phong trào xây nhà bêtông bắt đầu rầm rộ ở Thái Bình. Để có nguyên liệu đổ mái, người dân Tam Đường đã ra mộ đãi đất lấy sỏi. Nhà máy đường Hưng Nhân cũng được xây dựng từ đá sỏi ở ngôi mộ này. Mấy chục ngôi nhà ở Tam Đường và nhà máy đường Hưng Nhân cũng chỉ dùng hết một góc nhỏ của ngôi mộ. Hiện những ngôi nhà làm bằng sỏi cuội lấy từ mộ vua vẫn còn ở Tam Đường.
Thời kỳ đó, đường làng Tam Đường lầy lội lắm, cứ mưa xuống là bùn ngập mắt cá chân. Thế là cả làng chở sỏi cuội rải đường. Ngôi mộ này đủ làm mấy kilomet đường làng, kéo ra tận tỉnh lộ. Những khối đá khổng lồ bị giật mìn nung vôi.
Mộ vua Trần Nghệ Tông ở Quảng Ninh. 
Theo cụ Lê Như Ngân, những phiến đá dựng mộ lớn khủng khiếp. Mộ to như một căn nhà, được xếp bằng các phiến đá. Có phiến đá rộng đến 15 mét vuông và dày nửa mét, được mài nhẵn, xếp khít. Gạch ngói xây mộ cũng rất đẹp, mang hình thù rộng phượng. Những khúc gỗ vàng tâm moi lên cưa xẻ làm vật dụng vẫn vàng ươm.
Vào năm 1980, người dân tiếp tục đào mộ đãi sỏi, làm lộ đường hầm ở Phần Đa. Theo cụ Ngân, quách đá của Phần Đa cũng rất lớn, gần bằng Phần Cựu. May mắn là các nhà khoa học đã kịp thời phát hiện, bảo vệ ngôi mộ này, nên giữ được đến ngày hôm nay.
(Còn tiếp)
Theo Phạm Ngọc Dương (VTC News)

Trả giá khi phá mộ vua Trần (kỳ 7)


Trả giá khi phá mộ vua Trần (kỳ 7)

(VTC News) - Sau cuộc đào phá mộ, bị “ma hành” náo loạn, người dân thôn Bãi Dài không ai dám đến khu vực Khe Nghệ nữa. Thung lũng Khe Nghệ càng trở nên huyễn hoặc. Những câu chuyện ly kỳ, rùng rợn quanh lăng mộ được anh Nguyễn Văn Chạm ghi chép lại cẩn thận.
Tin liên quan

Trong số 8 lăng mộ vua Trần ở An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh), có lẽ 2 lăng mộ vua Trần Minh Tông và Trần Nghệ Tông là thảm hại nhất. Lăng vua Trần Minh Tông bị ủi mất hoàn toàn khi đắp đập nước. Người ta đã ủi, lăn cổ vật làm vật liệu đắp chân đập, rồi dồn cả vào một hố để lấp lại. Lăng mộ vua Trần Nghệ Tông thì bị rất nhiều người trong xóm Bãi Đá (thôn Bãi Dài) đào bới, tranh cướp tài sản.

Trả giá khi phá mộ vua Trần (kỳ 7)
Đền Trần thờ các vị vua Trần ở Nam Định. 

Theo lời anh Nguyễn Văn Chạm, người sống cách lăng mộ vua Trần Nghệ Tông chừng 300m, sau khi người dân trong xóm bỏ chạy tán loạn vì có người nói đây là mộ hủi, thì một thời gian sau, có một nhóm người săn đồ cổ tiếp tục tìm đến đào bới. Nhóm người này đào rộng và sâu xuống lòng đất. Tuy nhiên, khi xuống dưới lớp gỗ một chút, thì gặp một phiến đá lớn.

Phiến đá này rất dày, rộng cả chục mét vuông, nặng hàng chục tấn. Nhóm người này đã dùng đủ phương pháp, kéo nhiều thiết bị lên cẩu trục, song phiến đá khổng lồ vẫn không nhúc nhích. Không làm gì được, nhóm người săn đồ cổ đành bỏ cuộc. Họ mặc lăng mộ tan hoang trên mỏm đồi giữa thung lũng Khe Nghệ.

Trả giá khi phá mộ vua Trần (kỳ 7)
Cổ vật ở lăng mộ vua Trần bị bỏ mặc, cỏ mọc rậm rạp trùm kín. 

Theo lời kể của ông Hứa Văn Phán, thủ từ đền Sinh, sau khi đào phá lăng mộ vua Trần Nghệ Tông, hàng loạt tai họa đã đổ lên đầu người dân trong xóm.

Đầu tiên là ông Nguyễn Văn H., người xóm Bãi Đá. Ông này là người tích cực nhất trong việc đào phá mộ. Sau khi đào mộ, vài tháng sau ông bị chết đuối ở con sông nhỏ chảy qua xã khi xuống sông tắm. Lúc xác nổi lên, mọi người ra vớt, thì kinh hoàng với cảnh tượng đỉa bâu đen xác. Người dân phải dùng thòng lọng kéo xác ông lên bờ, rồi lấy que gạt từng con đỉa.

Trả giá khi phá mộ vua Trần (kỳ 7)
Bọn săn của đập nát sạch sẽ các cổ vật để tìm vàng bạc. 

Cái chết của ông H. khiến người dân vô cùng sợ hãi, liên tưởng đến cuộc đào phá… “mộ hủi”. Tiếp đó, rất nhiều biến cố xảy đến với người dân nơi đây. Những gia đình gặp tai họa đều mang những thứ lấy từ mộ trả lại. Nhiều người đã nung những chân tảng, tượng đá thành vôi, dù đã tôi vôi, cũng gánh vôi ra trả. Nhiều người mang bàn, ghế, giường, tủ đóng bằng gỗ lấy dưới mộ cũng đem ra mộ đốt. Những cục đá dùng lăn lúa, kê bờ ao cũng được khiêng ra trả lại cho vua.

Ông Đào Văn Hồng vẫn còn sợ hãi khi nhớ lại cuộc đào mộ 20 năm trước. Tôi đến thăm ông khi ông đang nằm còng queo trong giường vì ốm. Vợ ông bảo, từ ngày đào mộ, ông Hồng trở nên ốm yếu hẳn, lại lắm bệnh tật.

Trả giá khi phá mộ vua Trần (kỳ 7)
Những súc gỗ đào từ lăng mộ vua Trần Nghệ Tông được người dân xẻ ra làm vật dụng. (Ảnh chụp những súc gỗ tương tự vừa đào được từ một ngôi mộ gỗ ở An Sinh). 

Theo ông Hồng, sau cuộc đào phá mộ vua, cả xóm đều gặp vận rủi, các gia đình lục đục, đau ốm, vợ chồng đánh chửi nhau lung tung phèng… Ông Hồng rầu rĩ: “Không biết có phải vì người dân trong xóm xâm phạm mộ vua, rồi bị vua phạt hay không, mà cái xóm này cứ mãi nghèo xác nghèo xơ, nghèo nhất xã, nhất huyện”.

Ngày đào phá mộ, ông Hồng lấy gỗ, vợ ông gánh vôi về bón ruộng. Lúc gánh vôi thì vợ ông mang bầu, chửa 7 tháng. Khi đẻ, con đứa con đã chết vì nhau thai phủ mặt. Nói rồi, vợ ông Hồng dẫn tôi ra thăm mộ con bà. Ngôi mộ vừa được vợ chồng ông xây lại, nhỏ bé, xinh xắn.

Trả giá khi phá mộ vua Trần (kỳ 7)
Vợ ông Hồng vẫn hãi hùng khi nhớ lại chuyện gánh vôi từ mộ vua Trần về bón ruộng. 

Tai họa không chỉ đổ lên đầu vợ chồng ông Hồng, mà đứa cháu ngoại ông cũng thi thoảng lại dở chứng lạ. Thi thoảng bé lại lăn ra nhà, mắt mũi trợn ngược. Em trai ông Hồng thì bị ung thư phổi, vừa mới chết năm ngoái. Người dân trong làng cũng đồn rằng, do anh này làm nhà vệ sinh quay thẳng về phía mộ vua, nên mới chết!

Sau cuộc đào phá mộ, bị “ma hành” náo loạn, người dân thôn Bãi Dài không ai dám đến khu vực Khe Nghệ nữa. Thung lũng Khe Nghệ càng trở nên huyễn hoặc. Những câu chuyện ly kỳ, rùng rợn quanh lăng mộ được anh Nguyễn Văn Chạm ghi chép lại cẩn thận.

Trả giá khi phá mộ vua Trần (kỳ 7)
Anh Chạm là người nắm rất rõ những câu chuyện kỳ quái xảy ra trong xóm Bãi Đá. 

Vợ chồng anh Chạm mới chuyển về khu vực đồi Khe Nghệ từ năm 1996. Trước đó, gia đình chú ruột ông Chạm ở mảnh đất này. Chú anh mua từ năm 1990, ngay sau cuộc đào phá mộ. Tuy nhiên, cả gia đình đau ốm triền miên, trẻ con quấy khóc. Sợ quá, nghĩ bị “ma hành”, ông chú đã bán rẻ cho anh Chạm, bỏ đi chỗ khác ở.

Gia đình anh Chạm về ở, vợ chồng cũng lục đục, nay ốm mai đau, mắc đủ các bệnh. Vợ anh mắc bệnh gì chả rõ, thở không ra hơi, sức khỏe suy kiệt không đi nổi. Lúc trèo cây vải, anh Chạm ngã gãy rời xương tay. Sau này, biết ngôi mộ trên đồi là mộ vua, vợ chồng anh phá nhà làm theo hướng khác (ngôi nhà cũ hướng thẳng vào mộ), đặt bát hương thành tâm cúng bái cả ở mộ lẫn trong nhà.

Trả giá khi phá mộ vua Trần (kỳ 7)
Gạch đặc trưng thời Trần. 

Ngay sau lưng nhà anh Chạm, cách lăng mộ vua Trần Nghệ Tông không xa là nơi vợ chồng người em trai của anh sinh sống. Tuy nhiên, vợ chồng suốt ngày lục đục, quanh năm bần hàn vì bệnh tật. Mấy năm trước, hai người bỏ nhau, vợ đi nơi khác, còn em trai anh chuyển xuống chân đồi sinh sống. Mảnh đất ở Khe Nghệ không dám ở nữa, bán cũng chẳng ai mua.

Hãi hùng nhất là câu chuyện liên quan đến mảnh đất của ông Thảnh và ông Viện. Hai ông này ở huyện Kinh Môn (Hải Dương), không biết đồi Khe Nghệ có mộ vua, nên đã mua chung 2,5 héc-ta đất trên đồi. Toàn bộ mảnh đất của hai ông này nằm trọn trong khu vực có lăng mộ.

Có đất rồi, hai ông đã dựng nhà, trồng vải. Tuy nhiên, những sự kiện kinh hoàng diễn ra liên tục với hai ông này. Theo lời anh Chạm, vợ ông Thảnh khi lên đồi bẻ vải, tự dưng lăn đùng ra đất giãy dụa, trợn mắt, sùi cả bọt mép. Lúc đó, nghe dân làng kể nhiều chuyện “ma hành” rùng rợn, ông Thảnh và ông Viện sợ hãi, không dám sống ở thung lũng Khe Nghệ nữa.

Trả giá khi phá mộ vua Trần (kỳ 7)
Ngôi nhà... 
Trả giá khi phá mộ vua Trần (kỳ 7)
...và công trình phụ trong khu vườn vải của ông Thảnh và ông Viện không ai dám ở, đổ vỡ hoang phế. 

Ông Thảnh và ông Viện đã thuê ông Sỹ trông coi nhà cửa, vườn vải thiều ở Khe Nghệ. Trong khi ông Sỹ đang nhặt những tảng đá, di vật ném xuống hố để lấp lại, thì đột nhiên ông Sỹ lăn đùng ra đất, mắt cứ trợn ngược, co giật toàn thân. Mọi người phải đưa sông Sỹ đi cấp cứu.

Theo anh Chạm, tiếp sau đó, hàng loạt người dẫy cỏ, hái vải thuê cho ông Thảnh và ông Viện, gồm chị Huệ, chị Thu, chị Chiếm, anh Tuấn, trong lúc làm việc trên đồi, cũng đột nhiên chung một triệu chứng là lăn đùng ra đất, mắt trợn ngược như người bị động kinh. Nhưng khi khiêng những người này vào nhà, họ lại hồi tỉnh, đưa đi viện khám thì không ra bệnh gì.

Trả giá khi phá mộ vua Trần (kỳ 7)
Vườn vải của ông Thảnh và ông Viện bỏ hoang cho cỏ mọc. 

Sau khi hàng loạt người làm vườn thuê cho ông Thảnh và ông Viện bị “ma hành”, lời đồn “thánh vật” càng trở nên ghê gớm. Không ai dám làm thuê cho hai ông này nữa, khu vườn bỏ hoang hoàn toàn, lau lác mọc cao hơn cả vải. Ngôi nhà dựng trong vườn vải, gần khu mộ cũng không có ai ở, mưa gió thổi bay cả mái, trâu húc đổ tường.

Còn tiếp…

Phạm Ngọc Dương

Cuộc cướp phá tàn khốc mộ vua Trần Nghệ Tông (kỳ 6)


Cuộc cướp phá tàn khốc mộ vua Trần Nghệ Tông (kỳ 6)

(VTC News) - Nghe người đàn ông bảo đây là mộ hủi, những người đào bới, cướp phá mộ vua Trần Nghệ Tông bỏ chạy toán loạn. Người ta tắm rửa rất sạch sẽ. Từ đó, người dân trong xóm Bãi Đá gọi ngôi mộ này là… mộ hủi. Nghe mà xót xa cho một vị vua nổi tiếng của một triều đại thịnh trị.
Tin liên quan

Tôi rời lăng mộ vua Trần Anh Tông trong cảnh trời mưa tầm tã, sấm chớp đùng đùng. Người chèo đò gọi tôi về bờ gấp, bởi chỉ lát nữa, nước sẽ dâng ngập hồ và nhấn chìm khu lăng mộ vua trong dòng nước bạc.

Từ đập Trại Lốc, đi vòng vèo trên những con đường đất đỏ trơn trượt dọc chân Yên Tử về phía Tây thì đến khe một dãy núi. Khe núi này có tên là Khe Nghệ (thuộc xóm Bãi Đá, thôn Bãi Dài, An Sinh, Đông Triều, Quảng Ninh). Có lẽ, khe núi này là nơi đặt lăng mộ vua Trần Nghệ Tông, nên người ta mới gọi là Khe Nghệ.

Cuộc cướp phá tàn khốc mộ vua Trần Nghệ Tông (kỳ 6)
Mỏm đồi nơi đặt lăng mộ vua Trần Nghệ Tông rộng tới 5 héc-ta. 

Vòng vèo mãi, xuyên qua những trang trại rậm rịt vải, nhãn, na, rồi tôi cũng tìm được nhà anh Nguyễn Văn Chạm. Gia đình anh Chạm nằm ngay chân dốc, muốn đi vào lăng mộ vua Trần Nghệ Tông thì buộc phải đi qua ngõ và sân nhà anh.

Tôi nhờ anh Chạm dẫn đường lên mộ vua, anh Chạm cứ ngần ngừ, vẻ ngại ngùng. Sau này, trò chuyện, tôi mới biết có vô vàn chuyện đồn thổi khủng khiếp mang màu sắc mê tín dị đoan, khiến người dân trong vùng rất sợ, không dám tìm đến khu mộ này. 

Cuộc cướp phá tàn khốc mộ vua Trần Nghệ Tông (kỳ 6)
Anh Chạm thắp hương trước khi lên khu lăng mộ vua Trần. 

Tôi phải thuyết phục mãi, anh Chạm mới đồng ý dẫn đi. Anh thắp nhang trên bàn thờ, khấn vái Thần linh, Thổ Địa, khấn vái cả vua Trần Nghệ Tông cho phép anh được dẫn nhà báo lên đồi.

Đứng trên sườn dốc, anh Chạm vòng tay chỉ khu vực thung lũng Khe Nghệ. Toàn bộ diện tích thung lũng khoảng 100ha, kéo dài từ sườn Tây Yên Tử xuống đến đồng bằng. Mộ vua Trần Nghệ Tông nằm trên mỏm đồi cao nhất của thung lũng. Mặt bằng ngọn đồi rộng tới 5 héc-ta. Theo lời anh Chạm, những ngày trời trong, đứng trên mỏm đồi sẽ nhìn thấy dãy núi Kinh Môn (Hải Dương) án ngữ và di tích chùa Cao trên đỉnh dãy núi đó.

Cuộc cướp phá tàn khốc mộ vua Trần Nghệ Tông (kỳ 6)
Không ai dám mò đến khu vực mộ vua Trần Nghệ Tông nên cỏ mọc rậm rạp.  

Đi qua khu vườn na khá sạch sẽ của gia đình anh Chạm thì đến khu vườn vải. Khu vườn vải rộng mênh mông, choán hết mỏm đồi, như một khu vườn hoang, cỏ mọc lút gối. Chúng tôi phải vạch cỏ mới đi được. Những cây vải khá lớn, song do không được chăm sóc, nên xác xơ, chẳng có quả.

Anh Chạm bảo: “Mấy năm nay không có bóng người nào mò vào khu vực này đâu. Người dân trong vùng cũng chẳng dám thả trâu bò lên đồi. Ai cũng sợ vua trừng phạt vì tội phá mộ. Đất này là đất của vua, nên không ai dám xâm phạm”.

Sau một hồi luồn lách trong đám cỏ gianh thì đến một khu đất thoáng đãng, không có cây vải nào. Tuy nhiên, giữa khu đất ấy, lau lác mọc um tùm, cao đến ngực. Tại khu đất trống ấy, có một “miếu thờ” vua Trần Nghệ Tông. 

Cuộc cướp phá tàn khốc mộ vua Trần Nghệ Tông (kỳ 6)
Lăng mộ vua Trần Nghệ Tông chỉ còn lại thế này. 

Nói là miếu thờ cho đỡ tủi, chứ thực tế quá thảm hại. Anh Chạm bảo, mấy năm trước, các nhà khoa học về nghiên cứu, đo vẽ một hồi, rồi họ bỏ đi. Các nhà khoa học xót xa cho khu lăng mộ vua Trần Nghệ Tông, nên đã chi tiền mua 2 tấm phi-brô-ximăng, còn anh Chạm thì nhiệt tình chặt mấy khúc cây, rồi dựng lên cho có chỗ đặt bát hương. Từ bấy đến nay, cũng chẳng có ai hương khói, thờ tự. Bát hương lạnh lẽo phơi nắng gió mấy năm nay rồi.

Tôi vạch từng gốc cây, bụi cỏ, song chẳng tìm thấy di vật nào ngoài mấy cục đá vỡ nát chả khác gì đá nung vôi và một cái chân bia hiện làm nơi đặt bát hương trong “miếu thờ”. 

Anh Chạm dẫn tôi ra phía sau miếu rồi vạch bụi cỏ lau cao quá đầu chỉ tay và giải thích rằng, đó là nơi đã diễn ra cuộc cướp phá lăng mộ vua Trần từ 20 năm trước.

Cuộc cướp phá tàn khốc mộ vua Trần Nghệ Tông (kỳ 6)
Hố đào mộ rộng mấy chục mét vuông giờ cỏ mọc trùm kín. 

Trước đây, khu vực ven núi thuộc địa bàn An Sinh là nơi người Hoa sinh sống. Tuy nhiên, sau năm 1979, người Hoa bỏ vùng đất này đi đâu không rõ. Toàn bộ thung lũng Khe Nghệ rộng lớn không có người ở, cây cỏ rậm rạp. 

Người Hoa đi, người Kinh ở nơi khác kéo về phát rừng làm vườn. Vào tháng 3 năm 1990, một nhóm người phát rừng làm nương đã phát hiện lăng mộ đặc biệt này. Nghĩ rằng trong ngôi mộ có kho báu, nên người ta đã đào tung lên. 

Thông tin nhóm người đào mộ được… kho báu nhanh chóng lộ ra, cả xóm Bãi Đá kéo đến… hôi của. Người dân đã đào một khoảng đất rộng tới 30 mét vuông và sâu xuống lòng đất 4 mét.

Cuộc cướp phá tàn khốc mộ vua Trần Nghệ Tông (kỳ 6)
Các nhà khảo cổ mua 2 tấm phi-brô-ximăng, còn anh Chạm chặt mấy khúc cây dựng tạm lấy chỗ đặt bát hương. 

Khi đào xuống độ sâu này, người dân moi được những súc gỗ lớn. Những người tham gia đào bới đều được chia phần, mỗi người một vài súc. Người xẻ ra đóng giường, người đóng tủ, người đóng cánh cửa, bàn ghế. Những sản phẩm làm từ gỗ lấy ở ngôi mộ này hiện nhiều gia đình vẫn dùng và vẫn rất tốt.

Theo lời kể của ông Đào Văn Hồng, người trực tiếp tham gia đào mộ, thì gỗ làm mộ không phải là gỗ lim mà là gỗ nghiến và gỗ táu. Những súc gỗ lớn này được xếp thành một gian phòng kín trong lòng đất, được đóng mộng với nhau rất chặt, khít.

Qua mô tả của ông Hồng, có thể khẳng định rằng, vua Trần Nghệ Tông được chôn trong một ngôi mộ gỗ đóng cũi, còn gọi là mộ cũi. Đây là loại mộ có từ thời Bắc thuộc, tồn tại song song với mộ gạch. Tuy nhiên, đến thời Lý và Trần, mộ gạch và mộ gỗ có quy mô nhỏ hơn rất nhiều so với thời Bắc thuộc. 

Cuộc cướp phá tàn khốc mộ vua Trần Nghệ Tông (kỳ 6)
Duy nhất phiến đá là chân cột bia còn rõ hình hài... 
Cuộc cướp phá tàn khốc mộ vua Trần Nghệ Tông (kỳ 6)
...cùng với vài viên đá đã bị đập nát. 

Theo lời ông Hồng, bên trong ngôi mộ gỗ mà người dân đào phá có rất nhiều than gỗ, khối lượng lên đến vài tấn. Bên trong lớp than là lớp vôi bột, rồi đến lớp “hắc ín”. Ông Hồng cũng như người dân trong xóm không biết chất này là gì, chỉ thấy nó màu đen, mềm, giống hắc ín, nên gọi như vậy. Tuy nhiên, theo phán đoán của tôi, có thể chất này là một loại nhựa cây, có tác dụng bảo quản di hài vua Trần Nghệ Tông, vì như lời ông Hồng, thì chất này đốt cháy đùng đùng và tỏa ra mùi thơm dễ chịu.

Khi đó, vợ ông Hồng cùng nhiều người khác nữa đã tranh nhau gánh than, “hắc ín”, vôi bột về để… bón ruộng. Mỗi người lấy cả chục gánh mà không hết. 

Người dân trong xóm đồn rằng, ông B. lấy được rất nhiều “bạch phiến” màu trắng trong mộ cùng với vàng bạc, bán được rất nhiều tiền. Sau khi trúng quả, ông B. bỏ người vợ từng đồng cam cộng khổ nơi quê nhà, vào Nam hưởng cuộc sống giàu có. Từ bấy đến nay, không thấy ông B. về làng nữa.

Cuộc cướp phá tàn khốc mộ vua Trần Nghệ Tông (kỳ 6)
Người dân đã bỏ hoang nhà cửa, không dám ở đồi Khe Nghệ nữa vì sợ... "mộ hủi". 

Tôi thì không tin chuyện có bạch phiến trong ngôi mộ này. Có thể đó chỉ là một chất bảo quản di hài có màu trắng mà thôi.

Theo lời ông Hồng, khi mọi người đang tranh nhau gánh than, “hắc ín”, vôi bột về bón ruộng, thì một người ở đâu mò đến kêu lớn: “Sao mọi người lại lấy những thứ này về? Ngôi mộ có than, lại rắc vôi bột là mộ chôn người hủi đấy. Người ta rắc vôi để tránh bệnh hủi lây nhiễm”. Khi đó, không ai biết đây là mộ vua. 

Nghe người đàn ông bảo đây là mộ hủi, những người đào bới, cướp phá mộ vua Trần Nghệ Tông bỏ chạy tán loạn. Mọi người nhảy xuống suối kỳ cọ rất sạch sẽ. Từ đó, người dân trong xóm Bãi Đá gọi ngôi mộ này là… mộ hủi. Nghe mà xót xa cho một vị vua nổi tiếng của một triều đại thịnh trị.

Xót xa lăng mộ vua Anh Tông chìm dưới lòng hồ (kỳ 5)


Xót xa lăng mộ vua Anh Tông chìm dưới lòng hồ (kỳ 5)

(VTC News) - Con đập Trại Lốc và sự vô tình của con người đã nhấn chìm luôn những bí ẩn thú vị về cuộc đời và cái chết của một vị vua oai hùng trong lịch sử Đại Việt.
Tin liên quan

Đứng trên đập Trại Lốc, ông Nguyễn Hữu Tâm chỉ tay ra bốn hướng, mô tả dãy núi trùng điệp bao quanh hồ Trại Lốc rộng mênh mông. Xưa kia, giữa dãy núi trùng điệp ấy, có một thung lũng hữu tình, với con suối uốn lượn chảy qua. Giữa thung lũng, cạnh con suối, nổi lên một quả đồi nhỏ có tên là đồi Trán Quỷ. Trên ngọn quả đồi Trán Quỷ, có lăng mộ vua Trần Anh Tông, chìm trong cây cối, hoa trái.

Xưa kia, đồi Trán Quỷ là nơi các bậc đế vương thường xuyên lui đến hành lễ chiêm bái trước lăng mộ vua. Từ Thái Miếu, các bậc đế vương sẽ đi ra Mục Lăng (Trần Minh Tông), rồi tiếp tục đi dọc con suối Lốc lên đồi Trán Quỷ.

Xót xa lăng mộ vua Anh Tông chìm dưới lòng hồ (kỳ 5)
Lăng mộ vua Trần Anh Tông giờ nằm giữa hồ Trại Lốc. 

Ông Nguyễn Hữu Tâm mô tả thế này: 700 năm trước, vùng An Sinh là nơi uy nghi tráng lệ, nơi các Thái thượng hoàng nhà Trần tu ẩn, nơi các bậc đế vương đi về, nơi tiếng chuông tiếng mõ vang vọng. Trải hàng trăm năm thịnh trị, nhà Hồ soán ngôi, lăng tẩm vua Trần không còn được chăm chút cẩn thận nữa. Những lăng mộ chìm vào rừng già, bị lãng quên, bị trộm cắp, bị thiên nhiên khắc nghiệt tàn phá đến đổ nát.

Thập kỷ 40-50 của thế kỷ trước, vùng An Sinh, kéo dài đến tận Chí Linh (Hải Dương) toàn là rừng già, với những thân gỗ lim, nghiến to vài người ôm. Hổ thường xuyên về làng bắt trâu, bò, lợn, gà, thậm chí cả người.

Xót xa lăng mộ vua Anh Tông chìm dưới lòng hồ (kỳ 5)
Ông Tâm bên một lối đi lên lăng mộ còn khá nguyên vẹn. 

Rồi người dân tứ xứ tiến dần lên núi phát rừng làm ruộng, lập làng an cư. Lúc này, những lăng mộ bị lãng quên mấy trăm năm bỗng lộ ra. Con người lại tiếp tục tàn phá. Người ta thi nhau cuốc đất, moi đá tìm của báu, đồ cổ. Đỉnh điểm của sự tàn phá, phá một cách toàn diện, là người ta làm một con đập, dìm luôn cả lăng mộ khổng lồ xuống lòng hồ Trại Lốc.

Tôi đã có tổng cộng 3 lần tìm về An Sinh để được ra doi đất nổi lập lờ giữa hồ Trại Lốc, từng là đỉnh quả đồi Trán Quỷ. Hai lần về An Sinh, thì cả hai lần mưa lớn, nước từ toàn bộ sườn Tây Yên tử đổ ra con suối, tống về hồ, khiến nước dâng tới đập tràn. Khi nước hồ Trại Lốc lên đến đập tràn, thì toàn bộ ngọn đồi Trán Quỷ khi xưa, tức doi đất mộ vua bây giờ sẽ chìm dưới lòng hồ. Duy nhất ngọn cây lạ còn lơ phơ cành lá, cùng với bát hương còn nổi lên khỏi mặt nước chừng gang tay.

Xót xa lăng mộ vua Anh Tông chìm dưới lòng hồ (kỳ 5)
Mỗi khi có mưa lớn, toàn bộ phế tích lăng mộ lại chìm xuống lòng hồ. 

Anh Nguyễn Văn Thắng, người trông coi đập Trại Lốc và thầu hồ Trại Lốc lấy thuyền chở tôi ra doi đất nổi lên giữa hồ để viếng mộ vua Trần Anh Tông. Anh Thắng bảo: “Trước đây, mỗi lần mưa lớn, nước hồ dâng lên, là phế tích lăng mộ vua Trần biến mất dưới lòng hồ. Nhìn cảnh ấy xót quá, nên dân làng nhặt những viên gạch ở phế tích xây thành cái am nhỏ xíu, cao chừng hơn mét rồi đặt bát hương lên. Vị trí đặt bát hương cao hơn mặt tràn của đập Trại Lốc, nên dù mưa lớn, nước về ngập hồ, thì bát hương vẫn trồi lên khỏi mặt nước”.

Xót xa lăng mộ vua Anh Tông chìm dưới lòng hồ (kỳ 5)
Lăng mộ của vị vua nổi tiếng thời Trần giờ là thế này đây. 

Anh Thắng vẫn nhớ như in cảnh người ta tàn phá lăng mộ vua Trần Anh Tông: “Trước đây, quanh thung lũng trông như vườn cây của vua ấy, nhiều loại cây ăn quả cổ thụ lắm. Có thể 700 năm trước, lòng hồ Trại Lốc là vườn thượng uyển của vua, với đủ các loại cây ăn quả. Cây già chết đi, cây giống mọc lên nên vẫn còn đến tận những năm 70 của thế kỷ trước. Dưới lòng hồ còn có cả một vườn liễu khổng lồ, với những gốc liễu một người ôm không xuể. Nhưng hồi đắp đập họ chặt hết cây cối lấy gỗ đóng vào chân đập. Bao nhiêu tượng đá, bụt đá, voi ngựa, chân cột, cả chiếc bàn đá rất lớn, cùng lối đi là những bậc đá từ phía lăng Trần Minh Tông lên đồi Trán Quỷ dài mấy trăm mét cũng bị ủi vào phía chân đập. Người ta moi hết cả sườn đồi Trán Quỷ để lấy đất, còn lại mỗi ngọn đồi chon hỏn với phế tích lăng mộ này thôi”.

Xót xa lăng mộ vua Anh Tông chìm dưới lòng hồ (kỳ 5)
Tấm bia đá nằm phơi mưa nắng. 

Con thuyền nhỏ lướt sóng cập bờ. Trên doi đất chỉ toàn cây xấu hổ với gai móc sắc nhọn. Vẫn còn những lối lên lăng với bậc đá, với sấu chầu hai bên. Tuy nhiên, các tảng đá, các bậc đá, bia đá, sấu đá, rồng đá, tượng đá đều gãy làm nhiều mảnh, vỡ nham nhở.

Tôi cứ lăn tăn tự hỏi, chẳng lẽ mây mưa nắng gió lại làm vỡ được những tảng đá cứng như… đá này? Chẳng lẽ, người đời lại tự dưng ngứa tay đập vỡ nó ra? Anh Thắng bảo: “Toàn là do dân tìm vàng bạc châu báu phá hoại đấy. Họ đào mộ tìm vàng, rồi đập tượng đá, rồng đá, sấu đá, bia đá để xem có vàng bạc bên trong không. Toàn bọn phá hoại, làm gì có ai giấu vàng bạc trong đá cơ chứ!”.

Xót xa lăng mộ vua Anh Tông chìm dưới lòng hồ (kỳ 5)
Người ta đập vỡ cổ vật để tìm của. 

Nhìn cảnh mọi thứ đổ vỡ, anh Thắng và một số người dân xót xa lắm. Họ bàn nhau trộn ximăng, rồi gắn những mảnh vỡ lại, nhưng việc làm của họ không chuyên nghiệp, nên vết gắn cứ lôm nha lôm nhôm. Dù sao, hành động bảo vệ di tích đó cũng rất đáng quý rồi.

Việc trông coi phế tích lăng mộ Trần Anh Tông hình như không phải việc của Nhà nước, của chính quyền, mà lại là việc của anh chàng trông nom hồ cá. Dù hàng năm cả chục lần lăng mộ bị nhấn chìm trong nước, song phần lớn thời gian, hàng ngàn cổ vật lồ lộ giữa thanh thiên bạch nhật. Những tay trộm đồ cổ, những nhà sưu tầm cổ vật nhìn những bia đá, tượng đá, sấu đá, rồng đá có tuổi 700 năm mà thèm thuồng, muốn bê đi liền. Nhưng những tay trộm đồ cổ khó có thể tơ hào, vì đêm nào anh Thắng cũng ngủ trong căn nhà hoang ở doi đất giữa hồ liền kề với đồi Trán Quỷ để vừa trông hồ cá vừa trông nom ngôi mộ.

Xót xa lăng mộ vua Anh Tông chìm dưới lòng hồ (kỳ 5)
Hằng đêm anh Thắng ngủ trong ngôi nhà hoang này để trông cá và trông nom luôn đống cổ vật ở lăng mộ vua Anh Tông. 

Lăng mộ vua Trần Anh Tông đã được khai quật 2 lần vào năm 2007 và 2008, làm phát lộ nhiều thông tin quý giá. Người dân An Sinh nghĩ rằng, sau khi khai quật, lăng mộ sẽ được trùng tu hoành tráng, để người dân có chỗ hương khói, vua Trần đỡ tủi. Tuy nhiên, mấy năm qua rồi, lăng mộ vẫn nằm đó, với những gạch ngói, tượng đá, bậc đá bày cả đống trên ngọn đồi Trán Quỷ.

Cuộc khai quật của Viện Khảo cổ học Việt Nam cho thấy đây là một lăng mộ cực kỳ hoành tráng, nằm theo chiều Bắc – Nam, có cấu trúc 3 cấp nền, hình chữ nhật, nằm chồng xếp và lồng vào nhau. Cấp nền thứ nhất rộng gần 93 mét vuông, cấp nền thứ 2 rộng tới 1.018 mét vuông và cấp nền thứ 3 rộng tới 3.558 mét vuông. Như vậy, toàn bộ trung tâm lăng mộ rộng tới hơn 4.469 mét vuông, tức gần nửa héc-ta. Cùng với đó là hàng loạt các công trình quy mô lớn xung quanh lăng mộ.

Xót xa lăng mộ vua Anh Tông chìm dưới lòng hồ (kỳ 5)
Xót xa lăng mộ vua Anh Tông chìm dưới lòng hồ (kỳ 5)
Cổ vật các nhà khoa học moi lên từ lòng đất. 
 
Điều đáng chú ý, trong cuộc khai quật, các nhà khoa học đã tìm được số lượng khổng lồ đồ gốm sinh hoạt, gồm gốm men và đồ sành. Những di vật này đã gợi mở về những nghi lễ liên quan đến các lần ngự giá của các vua nhà Trần khi đến yết bái lăng mộ. Đáng lưu ý là những đồ gốm này chủ yếu của Việt Nam và chỉ có một lượng nhỏ gốm men của Trung Quốc.

Mặc dù cuộc khai quật đã thu được nhiều hiện vật, tư liệu khoa học, song khu di tích này vẫn ẩn chứa nhiều điều bí ẩn. Bí ẩn lớn nhất là tại khu vực trung tâm, các nhà khảo cổ đã cho đào một hố thám sát chính giữa, nhưng không tìm thấy dấu hiệu của huyệt mộ hoặc quan tài. Câu hỏi đặt ra là liệu có quan tài của vua Trần Anh Tông ở lăng mộ này và nếu có thì nó nằm ở vị trí nào?

Xót xa lăng mộ vua Anh Tông chìm dưới lòng hồ (kỳ 5)
Vết tích bó vỉa lăng mộ được các nhà khoa học làm phát lộ. 

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Canh Thân – Đại Khánh năm thứ 7 (1320), mùa xuân, tháng 3, ngày 6, Thượng Hoàng (Trần Anh Tông) băng ở cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường, rước linh cữu vào cửa Tường Phù, quàn tại cung Thánh Từ (Thăng Long). Tháng 12, ngày 12 (năm 1320), táng Thượng Hoàng vào Thái Lăng ở Yên Sinh”.

Đại Việt sử ký toàn thư chép tiếp: “Mười hai năm sau, mùa xuân, tháng 2, ngày 15, năm Nhâm Thân (Khai Hựu năm thứ 4 - 1332), phụ táng Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng Thái hậu (vợ vua Trần Anh Tông) vào Thái Lăng”.

Đại Việt sử ký toàn thư đã chép rõ như vậy, song 2 cuộc khai quật của các nhà khảo cổ lại chưa phát hiện được dấu tích của phần mộ là quan tài, huyệt mộ. Con đập Trại Lốc và sự vô tình của con người đã nhấn chìm luôn những bí ẩn thú vị về cuộc đời và cái chết của một vị vua oai hùng trong lịch sử Đại Việt.

Xót xa lăng mộ vua Anh Tông chìm dưới lòng hồ (kỳ 5)
Sấu đá còn khá nguyên vẹn. 

Trần Anh Tông tên thật là Trần Thuyên, là vị vua thứ 4 của nhà Trần (sau vua cha Trần Nhân Tông và trước Trần Minh Tông). Ông ở ngôi 21 năm (1293-1314) và làm Thái thượng hoàng 6 năm. Anh Tông là vị vua anh minh, được sự giúp sức của những nhà nho tài đức như Trương Hán Siêu, Đoàn Nhữ Hài, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn và những quan võ như Phạm Ngũ Lão, Lê Trung Hiển.
Ông giữ được đạo vua hiền, tôi trung, phép tắc nghiêm trang, thưởng phạt phân minh, chính trị không có điều gì hồ đồ. Việc học hành được mở mang rộng rãi, thu nạp được nhiều người tài. Chính vì thế, thời kỳ ông trị vì là giai đoạn thịnh trị của nhà Trần.
Vua Anh Tông hay vẽ tranh và làm thơ. Tuy nhiên, ngày nay chỉ tìm thấy 12 bài thơ của ông trong “Việt âm thi tập”. Có bài được ông sáng tác trên đường đi chinh chiến, có bài nói về lịch sử, đạo Thiền. Ông là tác giả của những bài thơ tả cảnh như "Vân tiêu am", "Đông Sơn tự". Ông có làm một tập thơ “Thủy vân tùy bút”, nhưng đến lúc sắp mất đem đốt đi, không cho để lại.
Sử chép rằng, năm 1320, khi Anh Tông đau nặng, hoàng hậu cho đi gọi thầy tăng về để làm lễ xem sự sinh tử, Anh Tông gạt đi mà bảo rằng: "Thầy tăng đã chết đâu mà biết được sự chết". Sau đó ông qua đời, hưởng thọ 47 tuổi.