Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

HỊCH TƯỚNG SĨ


Ta thường nghe: Kỷ Tín lấy thân chết thay, cứu thoát được vua Cao-đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo che chở được vua Chiêu-vương; Dự Nhượng nuốt than để trả thù cho thầy; Thân Khoái chặt tay để gánh nạn cho nước; Uất Trì Cung một viên tướng nhỏ, còn biết che đỡ Đường-chủ, ra khỏi vòng vây của Thế Sung; Nhan Cảo-Khanh là bầy tôi xa, còn biết mắng chửi Lộc Sơn, không nghe lời dụ của nghịch-tặc. Từ xưa, những bậc trung-thần nghĩa-sĩ, lấy thân theo nước, đời nào là không có đâu? Nếu mấy người kia, chăm chăm học thói dút-dát của con gái trẻ con, chẳng qua cũng đến chết dũ ở dưới cửa sổ, đâu được ghi tên vào trong thẻ tre lụa trắng, danh tiếng cùng trời đất cùng lâu bền?
Các người đời đời là con nhà võ, không biết chữ nghĩa, nghe những chuyện ấy, thảy đều nửa tin nửa ngờ. Thôi thì những việc cổ xưa, hãy để đó không nói đến nữa. Nay ta hãy đem chuyện nước Tống, giống Thát(là chuyện gần đây) kể cho các người cùng nghe: Vương công Kiên là người gì? Nguyễn văn Lập tỳ-tướng của y lại là người gì, chỉ có vòng thành Điếu-ngư nhỏ bằng cái đấu hai người ấy chống nổi toán quân trăm vạn của Mông-kha, khiến cho con dân nước Tống, đến nay hãy còn nhớ ơn. Đường ngột Ngại là người gì? Xích tu Tư tỳ-tướng của y lại là người gì? xông pha lam-chướng trên đuờng muôn dặm, hai người ấy đánh được quân Nam-chiếu trong vài tuần, khiến cho vua chúa giòng Thát nay còn để tiếng!
Huống chi ta với các ngươi, sinh ở buổi rối ren, lớn lên nhằm khi khó nhọc, chính mắt ngó thấy sứ ngụy đi lại, đường xá nghẽn-ngang, chúng múa cái lưỡi cú quạ làm nhục chốn triều-đình, chúng giơ cái thân chó dê, kiêu ngạo với quan tể-phụ; chúng nhờ mệnh lệnh của chúa Mông-Cổ, mà đòi nào ngọc nào lụa, sự vòi vĩnh thật vô cùng; chúng mượn danh hiệu của vua Vân-nam mà hạch nào bạc nào vàng; của kho đụn đã hồ hết Cung-đốn cho chúng giống như đem thịt mà liệng cho cọp đói, sao cho khỏi lo về sau?
Ta thường thì tới bữa quên ăn, giữa đêm vỗ gối, nước mắt tràn xuống đầy mép, tấm lòng đau như bị đâm, vẫn lấy cái sự chưa thể ăn thịt nằm da, nuốt gan uống máu của chúng làm tức. Dẫu cho một trăm cái thân của ta phải đem đốt ở đồng cỏ, một nghìn cái thân của ta phải đem bọc vào da ngựa, ta cũng vui lòng. Các ngươi lâu nay ở dưới cửa ta cầm giữ binh-quyền, thiếu áo thì mặc áo cho, thiếu ăn thì sẻ cơm đỡ, quan nhỏ thì cho lên chức, bổng ít cho thêm lương, đi thủy cấp thuyền, đi bộ cấp ngựa, những khi trận mạc, sự sống thác thầy chung với trò, những lúc mừng khao, tiếng vui cười ai cũng như nấy. So với Công Kiên làm chức thiên-lý, Ngột Ngại ở ngôi phó nhị, có khác gì đâu.
Thế mà các ngươi thấy chủ bị nhục chẳng lấy làm lo, gặp nước bị dơ chẳng lấy làm thẹn, làm tướng nhà nước phải hầu mấy đứa chum mường, mà không có lòng căm hờn, nghe khúc nhạc thờ đem thết một tên ngụy sứ, mà không có vẻ tức giận; kẻ thì chọi gà cho thích, kẻ thì đánh bạc mua vui, có người chỉ chăm vườn ruộng, cốt nuôi được nhà; có người chỉ mến vợ con, lấy mình làm trọng; cũng có kẻ chỉ lo làm giàu làm có, việc quân quốc chẳng thèm đoái hoài, cũng có người chỉ ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc là đam mùi rượu ngọt, hoặc là mê tiếng hát hay.
Một khi giặc Mông đến nơi, thì cựa con gà nòi không thể đâm thủng áo-giáp của giặc; thuật ở bàn bạc không thể đem làm mưu mẹo ở trong quân; vườn ruộng tuy giàu, tấm thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vợ con tuy sẳn, trong đám ba quân khó dùng, của cải tuy nhiều, không thể mua được đầu giặc; chó săn tuy khỏe, không thể đuổi được quân thù, rượu ngon không đủ để cho giặc phải mê; hát hay không đủ làm cho giặc phải điếc; lúc đó thầy trò ta sẽ cùng bị trói, đáng đau đớn biết chừng nào! Nếu thế, chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng bị kẻ khác chiếm mất; chẳng những là gia- quyến của ta phải đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc của tổ tông ta sẽ bị dày xéo, mà đến mồ mả của cha mẹ ngươi cũng sẽ bị kẻ khác đào lên, chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, và trăm kiếp khác tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu vẫn còn, mà gia thanh của các ngươi cũng chẵng khỏi mang tiếng là nhà bại tướng. Đã đến khi đó các ngươi muốn chơi bời cho thỏa, được chăng?
Nay ta bảo rõ các ngươi: cái chuyện dấm lửa đống củi phải lo, mà câu sợ canh thổi rau nên nhớ. Các ngươi hãy nên huấn luyện quân-sĩ, rèn-tập cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, bêu đầu Tất-Liệt dưới cửa khuyết, ướp thịt Thoát-Hoan trong trại rơm. Như thế chẳng những là thái-ấp của ta mãi mãi là của gia truyền, mà bổng-lộc các ngươi cũng được suốt đời hưởng thụ; chẳng những gia- quyến của ta được yên giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng được sum họp đến già; chẳng những là tông-miếu ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các người dưới trăm đời nữa tiếng thơm vẫn lưu truyền; chẳng những tên tuổi ta không bị mai một, mà đến tên họ các người cũng để tiêng thơm trong sử xanh. Khi ấy các ngươi không muốn vui chơi, được chăng?
Nay ta lựa chọn binh pháp các nhà, làm một quyển sách, đặt tên là sách "Binh-thư yếu-lược". Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách ấy, nghe lời dạy-bảo của ta, ấy là duyên thầy trò kiếp xưa; Nếu các ngươi bỏ bê sách ấy, trái lời dạy-bảo của ta, ấy là mối cựu thù kiếp xưa, Sao vậy? Bởi vì như vậy tức là kẻ thù không đội chung trời, thế mà các ngươi không nghĩ tới, điềm nhiên không lo đến sự rửa thẹn, không tinh; đến việc trừ hung, không nhớ đến chuyện dạy-tập quân-sĩ. Thế là giở giáo hàng giặc, nắm tay chống giặc. Rồi đây, sau khi dẹp yên quân giặc, các ngươi sẽ phải thẹn muôn đời, còn mặt-mũi nào đứng giữa khoảng trời đất che chở? Ta muốn các ngươi biết rõ bụng ta, nhân viết mấy lời đó làm hịch.
Kìa Kỷ tín, Do-vu thủa trước,
   Liều một mình thoát được nạn vua.
     Nuốt than Dự-nhượng báo thù,
Chặt tay, Thân-khoái đền bội quốc-ân.
   Đường Kính-đức đem thân cứu chúa,
   Nhan Tường-khanh mắng quở nghịch thần.
     Từ xưa nghĩa sĩ trung thần,
Đã lòng vị nước biết thân là gì!
   Nếu cứ giữ nữ-nhi thường thái,
   Chỉ khu khu biết cái thân mình,
     Ở đời một cõi phù sinh,
Còn đâu là tiếng hiển vinh đến rầy?
   Thôi chẳng kể việc ngày tiền cổ,
   Hãy xem ngay kia việc rõ Tống, Nguyên.
     Kìa như Nguyễn-lập Vương-kiên,
Điếu-ngư thành ấy quân quyền được bao?
   Đương trăm vạn ào ào quân giặc,
   Giữ cho dân nay được hàm ân.
     Ngột-lương một chức võ thần,
Tu-tư, tỳ tướng xuất thân đó mà!
   Đường muôn dặm xông pha chướng dịch,
   Trong vài tuần quét sạch Vân-Nam,
     Lập công tuyệt vực đã cam,
Khiến cho vua chúa tiếng thơm để đời,
   Nay gặp buổi trong thời nhiễu loạn,
   Ta cùng ngươi đương đoạn gian truân
     Nghĩ sao sánh với cổ-nhân,
Cũng nên hết bụng trung quân mới là!
   Kìa thử ngắm sự nhà Mông-cổ,
   Sứ vãng lai nhặng bộ xôn xao,
     Cú diều uống lưỡi thấp cao,
Bẻ bai triều bệ xiết bao nhục nhằn,
   Tuồng dê chó cậy rằng đắc thế,
   Chốn triều-đường ngạo nghễ vương công.
     Cậy tay Tất-liệt anh-hùng,
Bạc vàng biết mấy cho cùng dạ tham?
   Lại ỷ thế Trấn-nam hống hách,
   Định sang ta vét sạch của ta,
     Thịt đâu hoài thịt ném ra,
Ném cho hổ đói chắc đà khỏi lo?
   Nghĩ đến sự rầy vò xấu hổ,
   Ngày quên ăn đêm ngủ không an.
     Vỗ mình thổn thức canh tàn,
Chạnh đau khúc dạ, chảy ràn giọt châu
   Ăn gan ấy mời hầu thỏa dạ,
   Uống huyết kia mới hả giận này.
     Ví dù gan nát óc lầy,
Cho rằng da ngựa bọc thây cũng đành,
   Hỡi chư tướng cầm binh dưới trướng,
   Cơm áo vua an hưởng bao lâu.
     Chúa lo không biết âu sầu,
Hầu quân Mông-cổ không mầu hổ ngươi.
   Hết cờ bạc, vui chơi gà chọi,
   Thôi rượu chè, lại ngõi hát hay.
     Vợ con quấn quít đêm ngày,
Ruộng vườn chăm chút riêng tây của nhà.
   Việc quân quốc ví mà biếng nhác,
   Cuộc chơi săn đã chắc vui không?
     Giặc Nguyên phỏng lại đùng đùng,
Lấy gì chống giữ hay cùng cam tâm?
   Cựa gà sắc không đâm giáp giặc,
   Mẹo bạc gian khó đạc mưu quân!
     Vợ con thêm bợn vướng chân,
Ruộng vườn không chuộc cái thân nghìn vàng!
   Đầu giặc há có vàng mua được,
   Sức chó săn đuổi được giặc sao?
     Rượu ngon giặc chẳng lao đao,
Hát hay giặc chẳng hơi nào điếc tai;
   Nếu đến lúc vua tôi mắc nạn,
   Nhà các ngươi gia sản cũng tan.
     Các ngươi nên phải lo toan,
Húp môi canh nói, nằm giàn lửa thiêu.
   Quân sĩ phải hết chiều dạy dỗ,
   Rèn tập nghề cung, nỏ, qua, mâu.
     Quyết tình giết giặc treo đầu,
Đem công phá lỗ về tâu Triều-đình.
   Được như thế ta vinh đã vậy,
   Các ngươi cùng nổi dậy tiếng hay,
     Vậy nên có quyển thư này
Truyền cho các tướng đêm ngày chuyên coi.
   Nếu biết nghĩ mà noi nhời bảo,
   Ấy thầy trò hòa hảo một nhà,
     Ví dù trái bỏ nhời ta,
Dẫu trong tôi tớ cũng ra cừu thù.
   Bởi Mông-cổ là thù của nước,
   Không chung giời ở được cùng nhau.
     Các ngươi sao chẳng xót đau.
Bấm gan chịu nhục cúi đầu làm thinh.
   Lại không dạy quân binh cho biết,
   Lâm giặc vào chịu chết bó tay.
     Mai sau bình định có ngày,
Muôn đời để tiếng mặt giầy thế gian,

Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2011

Biển Đông và nước cờ chiến lược của các bên

Biển Đông trở nên căng thẳng trong thời gian qua vì những va chạm giữa các nước liên quan tới tranh chấp chủ quyền ở vùng biển này. Mỗi bên lúc này đều có nước cờ chiến lược riêng.

Một: Trung Quốc muốn gì ở Biển Đông? “Sinh sự để sự sinh”, tạo đột phá nhằm triển khai chiến lược mới khai thác dầu khí biển sâu ở khu vực nam Biển Đông – Trường Sa.
Vừa ép các nước, Trung Quốc vẫn để ngỏ cánh cửa đàm phán thương lượng để “cùng khai thác”, thực chất là để Trung Quốc khai thác phần chính do chủ động về công nghệ, lẫn tiềm lực tài chính. Ngày 21/6, Thứ trưởng ngoại giao Thôi Thiên Khải trả lời phỏng vấn Tân Hoa xã và đài Phượng hoàng liên quan đến cuộc tham vấn lần thứ nhất Trung – Mỹ về các công việc khu vực châu Á – Thái Bình Dương tổ chức hôm nay tại Hawaii, nói rằng: "Trung Quốc vẫn kiên trì không thay đổi những chủ trương trước đây, hy vọng các nước khác cũng sẽ giống Trung Quốc có thái độ kiềm chế, trách nhiệm và mang tính xây dựng".
Nếu các nước đều có thái độ giống Trung Quốc thì các vấn đề này sẽ dễ dàng giải quyết. Trung Quốc không mong muốn những tranh chấp thế này giữa các nước với nhau ảnh hưởng đến sự ổn định của cả khu vực hoặc ảnh hưởng đến tổng thể quan hệ song phương giữa các nước liên quan. Sau những vụ “lên gân lên cốt” hiện nay, nội dung thương lượng và thỏa hiệp sẽ lộ diện rõ ràng hơn.

Dàn khoan
Dầu khí Hải Dương 981, giàn khoan kiểu nửa chìm, thuộc thế hệ thứ sáu trên thế giới do Trung Quốc tự sản xuất. Trung Quốc đã chi hơn 900 triệu USD và mất hơn 3 năm để xây dựng giàn khoan này. Việc đưa giàn khoan này đi vào hoạt động tại Biển Đông trong tháng 7 tới chứng tỏ ưu thế công nghệ khai thác dầu khí của Trung Quốc so với các nước có liên quan ở Biển Đông. Ảnh: Pyis
Hai, để triển khai chiến lược mới tại Biển Đông, Trung Quốc thực hiện “ba mũi giáp công”. Trước hết hòa hoãn với Mỹ nhằm “trung lập hóa” Mỹ trong cuộc tranh chấp Biển Đông. Mỹ có thể đứng trung lập đến mức nào, vẫn là câu hỏi khó lường đối với Trung Quốc. Trước mắt, Mỹ có thể để Trung Quốc xoay xở đàm phán thương lượng, nhưng việc Mỹ đưa siêu hàng không mẫu hạm và đưa các tàu khu trục vào tập trận ở Biển Đông cho thấy Mỹ vẫn muốn cầm trịch cuộc chơi ở vùng biển này để xung đột không vượt khỏi tầm kiểm soát. Nếu có hòa hoãn thì cũng là một cuộc giải lao ngắn.
Thứ hai, dùng ngoại giao tiền bạc và các lợi ích kinh tế khác để ràng buộc các nước, tập hợp lực lượng ở Đông Nam Á; dùng “hợp tung” phá “liên hoành” của ASEAN trong vấn đề Biển Đông. Bó đũa ASEAN xem ra đang bị bẻ gãy từng chiếc. Thứ ba, tăng cường chính sách thực lực và ngoại giao pháo hạm tại Biển Đông, trước hết là để khuất phục Việt Nam và Philippines. Dùng quân sự hỗ trợ đàm phán trên thế mạnh, nhưng không loại trừ khả năng tạo ra “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” để gây chiến bất chấp dư luận, đặt mọi việc trước sự đã rồi, độc chiếm Biển Đông.
Ba, Trung Quốc có thể đi xa đến đâu? Trung Quốc tuy lắm tiền nhiều súng nhưng không có chính nghĩa. Phóng viên Thời báo hoàn cầu khi đưa tin về hội nghị quốc tế về Biển Đông tổ chức mới đây tại Singapore, ngay trước khi tàu tuần tra Trung Quốc thăm cảng nước này, cho hay hầu như tất cả các học giả đều phát biểu phê phán Trung Quốc, rất ít người nói thay cho Trung Quốc. Một học giả Trung Quốc nói rằng “mặc dù sức mạnh của Trung Quốc tăng nhanh, nhưng tiếng nói trong cộng đồng quốc tế rất yếu, trong vấn đề Biển Đông cũng như vậy”.
Mặt khác, Trung Quốc phải giải quyết khá nhiều vấn đề trong nước. Arthur Herman, một tác giả tên tuổi ở Mỹ, nhận định giá dầu tăng cao và lạm phát đang xóa đi nhiều thành tựu kinh tế của Trung Quốc; bạo lực gia tăng thành hàng chục vạn vụ hàng năm, thậm chí cả các vụ nổ bom chống lại chính quyền. Ông này nhận xét rằng nhìn vào các việc làm, “Trung Quốc trông không giống một siêu cường đang lên mà giống như một kẻ bắt nạt mất kiểm soát”.
Dù thế nào, Trung Quốc chắc cũng không muốn phá vỡ cục diện vốn đang có lợi cho họ ở Đông Nam Á. Một cuộc chiến tranh tại Biển Đông do Trung Quốc phát động tất yếu sẽ đẩy một số quốc gia đang giữ vị thế trung lập đầy khó khăn trong quan hệ giữa các nước lớn vào một liên minh mới với Mỹ.
Tàu Viking 2 do PetroVietnam thuê bị các tàu của Trung Quốc cản trở hoạt động hôm 9/6. Ảnh: PetroVietnam.
Bốn, nước Việt ta xưa nay giữ được bờ cõi không những cần ý chí nghị lực mà phải có mưu lược. Trong nước, tiếp tục biểu dương sức mạnh đoàn kết dân tộc. Hãy sản xuất ra hàng hóa có sức cạnh tranh. Trên biển, ta phải nhanh chóng thích nghi ứng phó với loại xung đột cường độ thấp và “phi truyền thống” mà các lực lượng vũ trang và bán vũ trang Trung Quốc tiến hành.
Năm, hy vọng không phải là chiến lược. Cần dựa vào sức mình là chính, kết hợp mọi hình thức đàm phán song phương và đa phương, trong khi tăng cường củng cố thực lực của mình, đẩy mạnh tập hợp lực lượng quốc tế, vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh coi trọng quan hệ với các nước láng giềng và các nước lớn. Lại phải thấm nhuần tư tưởng cốt lõi của ngoại giao Đại Việt trong quan hệ với Trung Quốc đúc kết qua hàng ngàn năm bang giao, nằm trong hai chữ “hòa hiếu”.
Nhiều người Trung Quốc hiện nay chưa hiểu bản chất tình hình Biển Đông. Ta cần tận dụng các lợi thế của thời đại kỹ thuật số, gửi đến nhân dân Trung Quốc các thông tin xác thực, lý lẽ phải trái và bức thông điệp rõ ràng: Việt Nam không thách thức Trung Quốc trên Biển Đông; Việt Nam chỉ bảo vệ lợi ích cốt lõi của mình trong vùng lãnh hải mà mọi quốc gia dù lớn hay nhỏ đều được công pháp quốc tế, công lý và đạo lý thừa nhận.
(Theo SGTT)

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2011

Cuộc tàn phá thảm khốc lăng mộ Trần Minh Tông

Đại công trường đắp đập thủy lợi Trại Lốc đã tàn phá nhẫn tâm toàn bộ lăng mộ khổng lồ của vua Trần Minh Tông.
Sau khi rời núi Bãi Bắn, nơi có lăng Tư Phúc (An Sinh, Đông Triều, Quảng Ninh), tôi vòng về thôn Trại Lốc. Ngay đầu thôn, có tấm biển chỉ đường lên đền Thái.

Đền Thái là một gian nhà cấp bốn nhỏ xíu, xây hình chữ Đinh nằm giữa quả đồi, lẩn khuất sau những tán vải um tùm. Ông Nguyễn Văn Yên, người trông nom, hương khói đền và ông Nguyễn Hữu Tâm đang ngồi uống nước trước sân đền.

Ông Tâm chỉ tay về các hướng và tả cho tôi dấu vết công trình đền Thái khi xưa. Thì ra, di tích đền Thái mới được các nhà khoa học khai quật năm ngoái. Người dân thôn Trại Lốc tham gia đào bới rất đông, chia làm hai đợt, suốt mấy tháng liền, mới làm lộ ra chân móng, đường hào công trình cực kỳ hoành tráng khi xưa.

Cổ vật khai quật ở di tích Thái Miếu. 

Đền Thái vốn là một công trình được coi như Thái Miếu của Vương triều Trần khi xưa. Các nhà khoa học đã đào bới, làm phát lộ nền móng rộng tới 2 héc-ta, choán hết cả quả đồi. Theo lời ông Yên, các nhà khoa học đã thu gom được cả chục xe tải gạch ngói, đá tảng, là các di vật quý chở đi. Còn cả đống di vật vẫn xếp ngổn ngang sau đền.

Sau khi làm phát lộ di tích, các nhà khoa học ghi chép rồi lại thuê dân lấp lại như cũ. Hiện các gia đình sở hữu quả đồi này đã nhận tiền bồi thường. Chưa rõ khi nào Nhà nước sẽ tiến hành phục dựng Thái Miếu khổng lồ này.

Theo ông Yên, đền Thái hiện tại do nhân dân dựng lại cách nay hơn chục năm để thờ 3 vị vua là Trần Hiến Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Lăng mộ 3 vị vua Trần này đều nằm ở thôn Trại Lốc, ngay sau đền Thái. Ông Nguyễn Hữu Tâm đã nhiệt tình dẫn tôi đi tìm lăng mộ của vua Trần Minh Tông.

Đứng trên con đập hùng vĩ, ông Tâm chỉ tay xuống phía chân đập và bảo: “Ngay dưới chân đập, chỗ bãi bằng kia là lăng mộ vua Trần Minh Tông đấy! Chỉ vài người lớn tuổi chúng tôi là còn biết đến lăng mộ của ông Minh Tông thôi. Giờ lăng mộ biến mất rồi, không có sự chỉ dẫn của chúng tôi, các nhà khảo cổ cũng khó mà xác định được vị trí”.

Tôi và ông Tâm tụt xuống chân đập và định vị lăng mộ khổng lồ của một vị vua Trần nổi tiếng thế kỷ 14. Tôi loanh quanh trên khoảng đất rộng mênh mông lọt giữa khe đồi, song tuyệt nhiên không tìm thấy dấu tích gì, dù là một mẩu gạch, một viên đá.

Theo lời ông Tâm, khu vực này từng có tên là Khe Gạch. Địa danh Khe Gạch vốn là một khu dân cư thuộc thôn Trại Lốc. Năm 1970, gia đình ông Tâm đến định cư ở ngay chân đồi Khe Gạch, cách lăng mộ vua Trần Minh Tông khoảng 150m. Lăng mộ khi đó nằm dựa vào chân đồi, ngay cạnh con suối. Địa thế nơi đặt lăng mộ rất đẹp.
Rất nhiều gạch thời Trần nằm dưới lòng đất ở nơi từng là Thái Miếu. 

Ngày đó, ông Tâm là chi hội trưởng người cao tuổi của thôn, được nhân dân giao trông nom, hương khói khu lăng mộ này. Khi đó, lăng mộ đã đổ nát, nhưng di vật vẫn còn rất nhiều, nằm la liệt trên mặt đất. Cả một khu vực rộng mênh mông có vô vàn bia đá, tượng, bụt, gạch ngói, bệ đá. Đặc biệt, lăng mộ vẫn còn nguyên 8 cửa lên xuống, với mỗi cửa là 2 con “sấu đá” (cách gọi của địa phương, gần giống như rồng đá), tổng cộng là 18 con. Theo ông Tâm, lăng mộ vua Trần Minh Tông ở chân đồi Khe Gạch là lăng mộ lớn nhất, đẹp nhất và còn nguyên vẹn nhất khi đó.

Mưa nắng mài mòn mấy trăm năm, khiến những phiến đá lớn lộ ra. Cả những súc gỗ lớn, là cũi của mộ cũng lộ ra ngoài, nhưng đã mục nát. Dù công trình lăng mộ đã đổ nát từ hàng trăm năm trước, nhưng dấu tích vẫn còn. Dựa vào các vết tích đó, các nhà khoa học có thể phục dựng lại lăng mộ như xưa.

Thế nhưng, đại công trường đắp đập thủy lợi Trại Lốc, đã tàn phá nhẫn tâm toàn bộ lăng mộ khổng lồ của vua Trần Minh Tông.

Theo lời ông Tâm, cuộc đắp đập Trại Lốc làm hồ chứa nước phục vụ nông nghiệp diễn ra từ những năm đầu thập kỷ 80, đến tận năm 1986 mới hoàn thành. Con đập khổng lồ này chặn suối Trại Lốc, tạo ra một cái hồ lớn để trữ nước. Đập nằm cách lăng mộ Minh Tông khoảng 200 mét và cao gần 30m.

Để đắp được con đập này, hàng chục máy xúc, máy ủi, cả ngàn nhân công được huy động đào bới rầm rập ngày đêm. Những chiếc máy ủi đã ủi phăng khu lăng mộ, những chiếc máy xúc xúc đất, rồi xe tải chạy vọt qua lăng mộ đổ đất đắp thành con đập cao lừng lững.

Ông Tâm tiếc nuối: “Tôi nhìn cảnh người ta phá tung lăng mộ lấy đất đắp đập mà đau lòng lắm. Khi máy ủi, máy xúc móc lăng mộ lên, thấy gạch đá nhiều lắm, những tảng đá lớn, tượng lớn chất thành đống lớn đống bé. Nhưng đá sỏi không dùng đắp đập được, họ chỉ moi lấy đất sét thôi. Một lượng gạch, đá được ủi kè ngoài chân đập, còn lại họ ủi hết tượng, bụt, rồng phượng xuống hố rồi lấp lại. Đập làm xong, thì lăng mộ biến mất hoàn toàn”.
Cách đây hơn 30 năm, tại lăng mộ Minh Tông vẫn còn 18 con sấu đá như thế này.

Ông Tâm cũng như những người lớn tuổi ở thôn Trại Lốc kể rằng, vào đúng đêm 29, 30 và mùng 1 Tết năm 1979, có một nhóm người Trung Quốc đào bới, tìm kiếm ở quanh mộ vua Trần Minh Tông, Trần Anh Tông và Trần Hiến Tông. Chính mắt ông Tâm thấy họ mang theo gia phả, bản đồ cổ, vác dao, thuổng, súng kíp và dắt chó đi tìm kiếm kho báu.

Nhóm người này đào một số địa điểm trong đêm, rồi mất tích vào sáng mùng 2 Tết. Ông Tâm và mọi người kéo ra, thì thấy những hố đào ở 3 ngôi mộ vua đều có dấu đáy chum. Ông Tâm khẳng định rằng, nhóm người này đã lấy đi… kho báu!

Theo ông Tâm, khu vực Khe Gạch là nơi có rất nhiều cổ vật. Ngay cả bây giờ, chỉ cần bới lớp đất lên, sẽ thấy gạch ngói, cổ vật bằng đá rất nhiều dưới lòng đất. Sở dĩ khu vực này gọi là Khe Gạch, vì dưới lòng đất toàn là gạch ngói, đồ gốm. Theo đó, ngoài lăng mộ vua Trần Minh Tông, Thái Miếu, khả năng khu vực này còn có một công trình rất lớn mà chưa được biết đến.

Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” thì: “Mùa xuân, tháng 2, ngày 19, Thượng Hoàng Trần Minh Tông băng ở cung Bảo Nguyên, miếu hiệu là Minh Tông… Mùa đông, tháng 11, ngày 11, táng Minh Tông ở Mục Lăng”.

Theo sách “Triều Trần thánh tổ các xứ địa đồ”, thì Mục Lăng có 3 nền. Nền ở trong dài rộng đều 2 trượng (6,6m), cao 2 thước, mở cửa rộng 4 thước. Nền thứ hai, Đông - Tây dài 3 trượng (9,9m), rộng 2 trượng (6,6m), cao 1 trượng (3,3m). Chiều Nam – Bắc dài 3 trượng, rộng 1 trượng, cao 1 thước… Bên ngoài, phía trái, phải có hai nền, mỗi nền dài 24 trượng 5 thước (79,2m), rộng 2 trượng 7 thước (8,91m), cửa rộng 4 thước, đều có lân đá, thềm đá…

Cuộc điền dã của các nhà khoa học vào các năm 1968 và 1973 cho thấy giới hạn ngoài cùng của lăng hình chữ nhật, một chiều dài 145m, một chiều 28m. Như vậy, lăng mộ này có quy mô lên tới 4.060 mét vuông, quả là một lăng mộ vĩ đại.

Tiếc rằng, công trình lăng mộ cực kỳ hoành tráng của vị vua Trần Minh Tông chưa được khai quật, nghiên cứu, đã vĩnh viễn biến mất bởi sự vô ý thức của con người.
Trần Minh Tông tên húy là Trần Mạnh, sinh ngày 21 tháng 8 năm Canh Tý (1300). Ông là con thứ 4 của vua Trần Anh Tông. Mẹ là Chiêu Từ Hoàng Thái Phi. Ông làm vua từ năm 14 tuổi, ở ngôi 15 năm, làm Thượng Hoàng 28 năm. Ông mất ngày 19 tháng 2 năm Đinh Dậu (1357), thọ 58 tuổi.
(Theo VTC News)

Mộ 3 vua Trần bị lãng quên trên đỉnh núi Cập nhật lúc 06/06/2011 03:34:53 PM

Câu hỏi lớn nhất, cứ vảng vất theo tôi mãi, đó là tại sao, một khu lăng mộ vua lớn như thế này, lại bị người đời quên lãng một cách thảm hại? Nơi yên nghỉ của các vị vua, chỉ có cỏ mọc rậm rạp, trâu bò gặm cỏ, phóng uế bừa bãi…
 
 

Theo ông Hứa Văn Phán, thủ nhang đền An Sinh (xã An Sinh, Đông Triều, Quảng Ninh) , sau khi đưa mộ các vua Trần từ Thái Bình ra An Sinh, nhà Trần cho xây dựng lăng Tư Phúc, rồi dựng điện An Sinh để thờ dưới chân núi. Hàng năm, đến ngày lễ lạt, giỗ chạp, các vị vua về dâng hương tại điện An Sinh, rồi đi lên núi chiêm bái 3 vị vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Giản Định.
 
Xưa kia, điện An Sinh là một công trình vĩ đại, bao trùm một vùng rộng lớn, sơn thủy hữu tình. Lăng Tư Phúc nằm trên đỉnh một quả núi ngay sau điện An Sinh và nằm trong khuôn viên rộng lớn của điện.
 

Đền Sinh và lăng Tư Phúc đã bị chia cắt bởi xóm làng và cả hồ nước rộng mênh mông này.

Tuy nhiên, thời gian trải hơn 600 năm, qua bao chiến tranh loạn lạc, cướp phá, lãng quên, toàn bộ điện An Sinh đã trở thành phế tích. Những công trình trên mặt đất đã bị biến mất gần như hoàn toàn từ cả trăm năm trước, chỉ còn lại dấu tích là hệ thống nền móng, bệ đá, chân cột nằm dưới lòng đất.
 
Từ cả trăm năm nay, không biết bao đời người dân đi và đến. Vùng đất rộng lớn của điện An Sinh đã bị chia xẻ thành nhiều khu vườn, khu đất, nhà ở, là một góc của xóm. Hồ nước lớn sau điện An Sinh cũng biến thành ao thả cá của người dân. Lăng Tư Phúc nằm trong quần thể điện An Sinh cũng bị chia cắt, lối đi từ điện lên lăng cũng đã chìm sâu dưới lòng đất, do đó, thay vì đi bộ từ hậu cung của điện An Sinh lên lăng Tư Phúc, thì phải đi vòng sang làng khác một đoạn đường 2 ngàn mét mới đến được.
 
Chị Quyến chỉ hướng lên lăng Tư Phúc.

Trần Thái Tông (sinh năm 1218) tên là Trần Cảnh. Do sự sắp xếp của chú họ Trần Thủ Độ, ông vào cung làm Chi hậu chính triều Lý, rồi kết hôn với Lý Chiêu Hoàng, vị vua cuối cùng của triều Lý. Năm 1225, khi Trần Cảnh mới 8 tuổi, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng. Ông lên ngôi vua, mở đầu cho triều đại nhà Trần. Ông ở ngôi báu 33 năm, làm Thái Thượng Hoàng 19 năm, mất năm 1277, thọ 60 tuổi, táng ở Long Hưng (Thái Bình). Năm 1381, chuyển về lăng Tư Phúc ở An Sinh.
Hỏi đường đến lăng Tư Phúc, người dân trong xóm lắc đầu quầy quậy, không biết lăng Tư Phúc là lăng gì, ở đâu. Trời mưa tầm tã, tôi chợt thấy lòng lạnh lẽo. Một cái lăng hẳn hoi, có tên rành rành trong sử sách, táng tới 3 ông vua Trần nổi tiếng, mà người dân trong xóm không biết nằm ở đâu. Tôi phải hỏi mấy bác trung tuổi: “Bác cho hỏi, có cái ngọn đồi, nghi có mộ vua, kho báu, mà cách đây 3 năm các nhà khảo cổ học đào bới suốt cả tháng”, tức thì ai cũng rành rẽ, chỉ lên quả núi mờ mờ trong mưa mù ở cuối làng.
 
Trước khi hỏi đường đến lăng mộ, ông Phán đã kể với tôi rằng, năm 2009, các nhà khảo cổ đã tiến hành khai quật sơ lược lăng mộ này. Khi các nhà khoa học tiến hành khai quật, thường phải thuê dân đào bới và sự kiện đó sẽ khiến không những cả xóm mà cả xã quan tâm. Vì thế, chỉ có hỏi cách đó, họ mới biết.

 Đường lên lăng Tư Phúc qua vườn vải và vườn bạch đàn rộng mênh mông.

Chân quả núi này rậm rạp cây cối và ít người ở. Tôi lòng vòng mãi trên đoạn đường lầy đất đỏ mới tìm thấy một ngôi nhà đang xây dở chìm khuất sau vườn vải của vợ chồng anh Nguyễn Văn Nam và chị Nguyễn Thị Quyến.
 
Trần Thánh Tông, tên là Trần Hoảng, sinh năm 1240, là con trưởng của Trần Cảnh. Ông lên ngôi năm 18 tuổi, ở ngôi 21 năm, làm Thái Thượng Hoàng 13 năm, mất năm 1290, thọ 51 tuổi.
Chị Quyến nắm rõ đường lên mộ vua, vì nhà chị ở ngay chân núi. Theo chị, ngọn núi này đã bị chia năm xẻ bảy, thuộc sở hữu của nhiều người. Người lập trang trại trồng vải, trồng na, trồng nhãn, người trồng keo, trồng bạch đàn.

 
Chị Quyến dẫn tôi đi loanh quanh trong trang trại vải rộng mênh mông của ông Nhạn. Ông Nhạn là người ở đâu chị Quyến cũng không rõ. Ông này mua mảnh đất rộng mấy ha dưới chân núi từ nhiều năm trước, rồi thuê người trồng vải tốt um tùm. Đi một lát thì hết vườn vải, tôi đặt chân đến sườn núi.
 
Đứng trước con đường mòn nhỏ xíu, chị Quyến bảo: “Đây là núi Bãi Bắn. Anh cứ đi thẳng con đường mòn này, lên đến đỉnh núi, thấy đá, gạch lộ ra trên mặt đất, thì chỗ đó là mộ vua đấy. Các nhà khoa học đào bới trên này bảo là mộ vua thì em biết vậy”.
 
 Lăng mộ 3 vị vua Trần nằm trên đỉnh núi Bãi Bắn.

Sở dĩ, người dân trong vùng gọi ngọn núi này là núi Bãi Bắn, vì có một đơn vị quân đội trong khu vực thường xuyên ra đây tập bắn. Mỗi lần họ tập luyện, súng nổ đì đoàng từ sáng đến chiều.
 
Bao trùm núi Bãi Bắn là rừng bạch đàn, với những cây bạch đàn bằng cổ tay, cổ chân, lơ phơ, xơ xác. Vợ chồng ông Núi, bà Lượm, đại gia nơi khác, đã mua trọn ngọn núi này từ 4 năm trước và trồng toàn bạch đàn.
 
Con đường mòn dẫn lên núi toàn phân trâu, phân bò, hôi hám, bẩn thỉu. Trèo núi đến khi hơi mỏi gối một chút thì lên đến đỉnh. Đỉnh núi có một mặt bằng khá rộng, cỡ 2000 mét vuông. Đứng trên đỉnh núi, phóng tầm mắt ra tứ phía, thấy phong cảnh thật đẹp. Sau lưng là dãy Yên Tử hùng vĩ, trước mặt là đồng ruộng với những ngọn đồi nhỏ nhấp nhô, làng xóm yên bình, sông chảy uốn lượn, đúng là sơn thủy hữu tình.
 
 Đứng trên lăng Tư Phúc nhìn xuống thấy cảnh sơn thủy hữu tình.

Vạch những bụi cỏ, tiến vào giữa đỉnh núi, thì “lăng mộ” 3 vị vua Trần lộ ra. Một cảnh tượng có thể nói là đau lòng và thương tâm không tả nổi: “Lăng mộ” 3 vị hoàng đế nổi tiếng thời Trần là vài chiếc cột gỗ, hai tấm phi-brô-xi-măng, một bát hương, một chiếc đĩa và vài cái chén. “Lăng mộ” rộng chừng hơn 1 mét vuông, không có tường vách, mặc gió thổi, mưa hắt, khói nhang lạnh lẽo.

Trần Giản Hoàng, sinh năm 1361, tức Trần Phế đế, tên húy Trần Hiện, con trưởng Duệ Tông. Ông lên ngôi năm 16 tuổi, xưng là Giản Hoàng. Ông ở ngôi 12 năm, mất năm 1388, hưởng dương 28 tuổi.
Chị Quyến, người sống dưới chân núi bộc bạch: “Từ xưa đến nay, chẳng ai biết, chẳng ai quan tâm đây là lăng mộ của vua cả. Từ lâu rồi, em chỉ thấy có duy nhất một bát hương đặt giữa đỉnh núi, nhưng cả năm chả có ai hương khói. Hồi khai quật mộ, xong việc, nhân dân và các nhà khảo cổ cùng dựng cột gỗ, lợp tấm bờ-rô rồi đặt bát hương cho các vua đỡ tủi”.
 
 Theo lời chị Quyến, khu mộ vua này được các nhà khoa học khai quật vào tháng 10 năm 2009. Chị Quyến và một số người trong làng cũng được thuê đào bới. Nhưng việc khai quật rất đơn giản, cứ chạm vào bậc đá, nền móng là dừng lại cho các nhà khoa học ghi chép, vẽ vời, rồi lại lấp trả như cũ.
 
 Nơi thờ tự 3 vị vua Trần chỉ là thế này.

Chị Quyến kể: “Chúng em đào đất lên, thấy toàn gạch ngói, đá tảng, voi ngựa, rồng phượng, nhưng lại lấp ngay lại. Chúng em còn đào được cả những bậc đá là lối đi từ đỉnh núi xuống chân núi, hướng về phía đền Sinh. Nghe họ bảo, ngày xưa đi viếng mộ vua là đi từ đền Sinh lên mà. Nhưng đào phát lộ lối đi, chúng em lại phải lấp trả”.
 
Tôi vạch từng bụi cây, nhổ những bụi cỏ và nhận thấy vô vàn dấu tích gạch đá. Những tảng đá lớn, dùng để kê chân cột, tiết diện ngót mét vuông nằm chềnh ềnh trên mặt đất, theo hàng lối thẳng thớm cho thấy đây là một lăng mộ hoành tráng khi xưa.
 
 Những chân cột bằng đá còn rất nhiều trên đỉnh núi.

Theo sách “Trần Triều Thánh tổ các xứ địa đồ”, thì lăng Tư Phúc nằm liền kề với điện An Sinh, phía Đông Bắc điện An Sinh. Lăng Tư Phúc gồm có 3 lăng. Lăng phía trong dài 6 trượng (19,8m), rộng 3 trượng (9,9m), nền cao 1,3m. Lăng giữa dài 2,3 trượng (7,6m), rộng 1 trượng (3,3m), nền cao 0,4m. Lăng phía ngoài dài 6 trượng (19,8m), rộng 2 trượng (6,6m), nền cao 0,7m.
 
Qua số liệu trên đây, có thể thấy quy mô lăng Tư Phúc khá lớn, gồm 3 lăng mộ cạnh nhau. Lăng lớn nhất rộng tới 200 mét vuông, lăng nhỏ chỉ hơn 20 mét vuông.
 
 Lớp đá bó vỉa lộ ra khỏi lòng đất.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Thị Khánh Duyên (BQL các di tích trọng điểm Quảng Ninh), thì các vị vua táng trong lăng Tư Phúc gồm Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Giản Hoàng, chứ không phải Trần Giản Định như sử sách thời Nguyễn vẫn chép.
 
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 12, ngày mùng 6, sáng sớm Thượng Hoàng (Trần Nghệ Tông) vờ ngự về Yên Sinh, sai điện hậu hộ vệ, rồi sai chi hậu nội nhân gọi vua tới bàn việc nước. Vua chưa kịp ăn vội đi ngay, chỉ có 2 người theo hầu. Đến nơi, thượng hoàng bảo vua: “Đại vương lại đây”, rồi lập tức sai người đem vua ra giam ở chùa Tư Phúc, tuyên đọc nội chiếu giáng làm Linh đức đại vương rồi cho dìu xuống phủ thái Dương thắt cổ chết”.
 
Trải hơn 600 năm, nhiều chân bệ không còn nguyên vẹn.

Theo bà Duyên, Trần Giản Hoàng mất ở An Sinh và cũng được triều đình đứng ra chôn cất. Do đó, có thể tin đây là lăng mộ Trần Giản Hoàng. Theo “Triều Trần thánh tổ các xứ địa đồ” thì lăng của Giản Hoàng được xây rất nhỏ, chỉ bằng 2/5 quy mô lăng của Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông.
 
Về vua Trần Giản Định, ông lên ngôi khi đất nước đã bị giặc Minh xâm lược, bị tướng nhà Minh là Trương Phụ bắt về Kim Lăng (Trung Quốc) và giết hại vào năm 1409 (có tài liệu ghi 1410), nên không thể xây dựng lăng mộ ở Yên Sinh được.
 
Rời lăng mộ 3 vị vua Trần trong cơn mưa tầm tã, tôi mang theo nhiều câu hỏi bí ẩn của lịch sử chưa được giải mã. Nhưng câu hỏi lớn nhất, cứ vảng vất theo tôi mãi, đó là tại sao, một khu lăng mộ vua lớn như thế này, lại bị người đời quên lãng một cách thảm hại? Nơi yên nghỉ của các vị vua, chỉ có cỏ mọc rậm rạp, trâu bò gặm cỏ, phóng uế bừa bãi…
 
Trần Giản Định (Giản Định đế) không rõ năm sinh, mất năm 1410, tên thật là Trần Ngỗi, là vua hậu Trần. Ông là con thứ 4 của vua Trần Nghệ Tông. Ông lên ngôi khi nhà Minh sang xâm lược. Ông bị giặc Minh bắt sang Trung Quốc rồi giết hại. Trần Giản Định làm vua được hơn 1 năm (1407-1409), làm Thái Thượng Hoàng được 4 tháng thì bị giết, không rõ bao nhiêu tuổi.
 

Những chuyện khó tin ở “nghĩa địa” các vua Trần

Các vị vua Trần, những người đã gây dựng nên một thời đại rực rỡ nhất của nền văn minh Đại Việt, đã từng 3 lần đánh bại quân Nguyên Mông, hiện đang bị người đời lãng quên – một sự lãng quên rất tủi.
Mới đây, nhà sử học Đặng Hùng (Hội Văn học nghệ thuật Thái Bình) đã xuất bản cuốn sách: “Long Hưng – đất phát nghiệp Vương triều Trần”, rủ tôi về vùng Long Hưng xưa để viếng các vua Trần, tiện thể tham quan các công trình đền đài, di tích lịch sử có tuổi 700 năm.

Ông Hùng đã bỏ mấy chục năm nghiên cứu về đời Trần ở đất Thái Bình và không ít công trình của ông đã gây tranh cãi, chú ý lớn trên các diễn đàn lịch sử.

Bìa cuốn sách viết về nhà Trần ở Thái Bình của nhà nghiên cứu Đặng Hùng.
Giờ đây, vùng đất phát nghiệp của một triều đại rạng rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam chỉ còn lại những di tích ít ỏi là những ngôi chùa, đền thờ nhỏ bé, khiêm tốn sau lũy tre làng.

Đi qua cánh đồng làng Tam Đường (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình), tôi chợt sửng sốt khi tận mắt những “quả đồi” sừng sững nhô lên giữa cánh đồng. Thái Bình vốn là tỉnh duy nhất của đất nước không có đồi núi, vậy những “quả đồi” này ở đâu ra.

Tôi vốn có nhiều lần bỏ công sức nghiên cứu, tìm hiểu về những “quả đồi” như thế này ở giữa cánh đồng vùng Hải Dương, và tôi nghĩ ngay đến những ngôi mộ Hán.
Những ngôi mộ vua Trần ở Thái Bình.
Hải Dương vốn là vùng đất trung tâm của thời Bắc thuộc, nơi các thứ sử Giao Châu từ Trung Quốc cổ đại sang lập trang ấp, cai trị quận Giao Chỉ. Quan lớn, nhà giàu chết đi, họ xây dựng mộ gạch hoặc mộ cũi khổng lồ, đắp hàng ngàn khối đất trùm lên mộ thành những quả đồi lớn giữa cánh đồng.

Nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành (nguyên giám đốc Bảo tàng Hải Dương) bảo rằng, không cần phải là nhà sử học, cứ thấy giữa cánh đồng bằng phẳng vùng Hải Dương, có gò đất nổi lên khỏi mặt ruộng, cao vài mét, hoặc như quả đồi nhỏ, thì đích thị là mộ Hán, có thể là mộ gạch, hoặc mộ cũi (mộ xếp gỗ).
Tượng thờ vua Trần ở đền An Sinh.
Liên tưởng đến câu chuyện về mộ Hán ở Hải Dương, tôi chỉ tay về phía những “quả đồi” giữa cánh đồng làng Tam Đường nói với nhà sử học Đặng Hùng rằng, đó chính là những ngôi mộ Hán. Chỉ có điều khó hiểu, là vùng đất Thái Bình gần 2000 năm trước, còn sình lầy, lau sậy, không hiểu sao đã có mộ Hán mọc lên? Nhà sử học Đặng Hùng cười bảo: “Không phải mộ Hán, mộ các vua Trần đấy!”.

Tôi lại chợt nhớ đến lời ông Tăng Bá Hoành, rằng hai loại mộ Hán, gồm mộ gạch và mộ cũi tồn tại ở Việt Nam đến tận thời Lý, thời Trần, chỉ có điều quy mô nhỏ hơn thời Bắc thuộc. Như vậy, có nghĩa là, có thể các vị vua Trần hiện đang nằm trong những ngôi mộ gạch hoặc mộ cũi xếp gỗ? Nhưng có điều khiến tôi băn khoăn, đó là, thời Trần, là thời kỳ thịnh hành của phật giáo, thì thường hỏa táng, nên chỉ còn tro cốt đặt trong các am tháp, chứ làm gì có mộ đắp đất hoành tráng như thế này? Những câu hỏi như thế thật thú vị, cứ ma mị, cuốn hút tôi đi tìm hiểu.
Mộ quách gỗ khai quật ở An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh).
Theo nhà sử học Đặng Hùng, vùng đất Long Hưng, mà cụ thể là làng Tam Đường này, từng là nơi chôn cất, đặt cốt của các vị vua Trần. Ngay cả chuyện tổ chức tang lễ, chôn cất ngọc cốt của Điều Ngự Giác Hoàng (vua Trần Nhân Tông) ở lăng Quy Đức, tại Long Hưng cũng là điều có có thật. Mặc dù vua Trần Nhân Tông băng ở Am Ngọa Vân trên núi Yên Tử, nhưng xá lị của ngài cũng được an táng một phần ở đây.

Ngoài lăng mộ của vua Trần Nhân Tông, tại làng Tam Đường còn có phần mộ của Thái Tổ Trần Thừa, vua Trần Cảnh, Trần Thánh Tông. Sách "Kiến văn tiểu lục" của Lê Quý Đôn chép: "Thái Đường, huyện Ngự Thiên có bốn cái lăng: Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông, lại có lăng của bốn hoàng hậu".
Du khách hành hương lên Chùa Đồng trên đỉnh Yên Tử. 
Nhưng trải 700 năm, mưa nắng bào mòn, chiến tranh tàn phá liên miên, nên hiện ở làng Thái Đường chỉ còn lại 3 lăng mộ của các vua Trần. Nhân dân trong vùng gọi 3 gò mộ to như quả đồi này là “gò mả vua”, mỗi gò đều có tên riêng là Phần Bụt, Phần Trung, Phần Đa.

Cách đây mấy chục năm còn có ngôi mộ tên Phần Cựu, quy mô cực kỳ to lớn. Nhưng ngôi mộ này đã được khai quật. Theo ông Hùng, các nhà sử học đã xác nhận đó là mộ thời Trần, và ngôi mộ đó của Trần Thừa. Hiện quan tài, ngọc cốt vẫn giữ ở Bảo tàng Thái Bình.
Chùa Hoa Yên.
Nhà nghiên cứu Đặng Hùng đoán rằng, ngôi mộ mà nhân dân gọi là Phần Bụt, có thể là mộ của vua Trần Nhân Tông. Ông lý giải thế này: Bụt có thể hiểu là Phật. Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong tác phẩm "Theo gót chân Bụt", thì lúc đầu, khi giác ngộ chân lý của đạo Phật, Đức Phật Tổ cho rằng đạo của người là đạo "Tỉnh thức". "Tỉnh thức" nói theo tiếng Magadhi là Budn (tức là Bụt).

Với những suy luận trên, ông Hùng cho rằng, rất có thể ngôi mộ có tên Phần Bụt theo cách gọi truyền miệng của nhân dân làng Tam Đường, chính là mộ của đức vua Trần Nhân Tông. Ngôi mộ trải 700 năm đã bị mài mòn khá thấp, nhưng mấy chục năm trước đã được nhân dân sửa sang, tôn đắp.

Trong cuộc khai quật ngôi mộ Phần Cựu, các nhà khoa học mô tả ngôi mộ như sau: Dưới cùng, trong lõi ngôi mộ là quách gỗ, gồm những súc gỗ lim lớn, xếp thành căn phòng nhỏ, kín khít trong lòng đất. Lớp đất sét được đắp kín quách gỗ. Trên lớp đất sét là vách đá. Hàng ngàn mét khối cát sỏi rải xung quanh và lấp kín vách đá. Trên lớp cát sỏi lại có một lớp đất sét dày, nện rất chặt.
Đền An Sinh thờ các vị vua Trần.
Cho đến nay, dù cuộc khai quật đã trải qua 30 năm, song những bí ẩn trong ngôi mộ vua khổng lồ vẫn chưa được sáng tỏ, các tài liệu vẫn nằm im, phủ bụi trong bảo tàng. Các ngôi mộ vua vẫn nằm đó, trơ trọi giữa cánh đồng và cũng chưa chắc chắn là mộ của vị vua nào.

Lần giở các tài liệu lịch sử, mới biết, năm 1320, nhà Trần đã cho chuyển lăng mộ của các tiên đế từ Long Hưng (Thái Bình) về An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh). Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Tháng 6, rước thần tượng các lăng ở Quắc Hương (Nam Định), Thái Đường (Hưng Hà, Thái Bình), Long Hưng, Kiến Xương đưa về lăng lớn ở Yên Sinh để tránh nạn người Chiêm Thành vào cướp”.

Nhà sử học Đặng Hùng khẳng định rằng, cốt các vị vua vẫn nằm trong mộ ở Tam Đường, bởi khi đó nhà Trần chỉ rước tượng thờ về An Sinh mà thôi. Tuy nhiên, phần lớn các nhà sử học hàng đầu Việt Nam đều khẳng định nhà Trần đã đưa cốt các vua từ làng Tam Đường về xã An Sinh, rồi xây dựng khu lăng mộ lớn là Lăng Tư Phúc, xây dựng điện thờ lớn là điện An Sinh để thờ tự các vị vua này.
Khu Lăng mộ Thái sư Trần Thủ Độ ở xã Liên Hiệp huyện Hưng Hà mới được tôn tạo.
Như vậy, hài cốt (nếu còn), tro cốt, hoặc xá lị của các vị vua nằm trong các ngôi mộ khổng lồ này đã được quật lên chuyển về An Sinh dưới chân núi Yên Tử, là quê hương gốc gác của các vị vua Trần? Nếu như vậy thì những ngôi mộ này chỉ còn là đống đất, là xác mộ?

Tò mò với câu chuyện về lăng mộ các vua Trần, tôi tìm về xã An Sinh nằm dưới chân dãy núi Yên Tử.

Câu chuyện đi tìm lăng mộ những vị vua di chuyển từ Thái Bình ra Quảng Ninh đã đưa tôi đến rất nhiều bất ngờ. Tôi đã có những ngày tìm hiểu, chứng kiến, và nghe rất nhiều chuyện đau lòng. Các vị vua Trần, những người đã gây dựng nên một thời đại rực rỡ nhất của nền văn minh Đại Việt, đã từng 3 lần đánh bại quân Nguyên Mông, hiện đang bị người đời lãng quên – một sự lãng quên rất tủi.

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011

Rùng rợn chuyện 'ma hành' khi phá mộ vua Trần

Sau cuộc đào phá mộ, bị “ma hành” náo loạn, người dân thôn Bãi Dài không ai dám đến khu vực Khe Nghệ nữa. Thung lũng Khe Nghệ càng trở nên huyền hoặc. Những câu chuyện ly kỳ, rùng rợn quanh lăng mộ được anh Nguyễn Văn Chạm ghi chép lại cẩn thận.
Trong số 8 lăng mộ vua Trần ở An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh), có lẽ 2 lăng mộ vua Trần Minh Tông và Trần Nghệ Tông là thảm hại nhất. Lăng vua Trần Minh Tông bị ủi mất hoàn toàn khi đắp đập nước. Người ta đã ủi, lăn cổ vật làm vật liệu đắp chân đập, rồi dồn cả vào một hố để lấp lại. Lăng mộ vua Trần Nghệ Tông thì bị rất nhiều người trong xóm Bãi Đá (thôn Bãi Dài) đào bới, tranh cướp tài sản.


Đền Trần thờ các vị vua Trần ở Nam Định.

Theo lời anh Nguyễn Văn Chạm, người sống cách lăng mộ vua Trần Nghệ Tông chừng 300m, sau khi người dân trong xóm bỏ chạy tán loạn vì có người nói đây là mộ hủi, thì một thời gian sau, có một nhóm người săn đồ cổ tiếp tục tìm đến đào bới. Nhóm người này đào rộng và sâu xuống lòng đất. Tuy nhiên, khi xuống dưới lớp gỗ một chút, thì gặp một phiến đá lớn.

Phiến đá này rất dày, rộng cả chục mét vuông, nặng hàng chục tấn. Nhóm người này đã dùng đủ phương pháp, kéo nhiều thiết bị lên cẩu trục, song phiến đá khổng lồ vẫn không nhúc nhích. Không làm gì được, nhóm người săn đồ cổ đành bỏ cuộc. Họ mặc lăng mộ tan hoang trên mỏm đồi giữa thung lũng Khe Nghệ.
Cổ vật ở lăng mộ vua Trần bị bỏ mặc, cỏ mọc rậm rạp trùm kín.

Theo lời kể của ông Hứa Văn Phán, thủ từ đền Sinh, sau khi đào phá lăng mộ vua Trần Nghệ Tông, hàng loạt tai họa đã đổ lên đầu người dân trong xóm.

Đầu tiên là ông Nguyễn Văn H., người xóm Bãi Đá. Ông này là người tích cực nhất trong việc đào phá mộ. Sau khi đào mộ, vài tháng sau ông bị chết đuối ở con sông nhỏ chảy qua xã khi xuống sông tắm. Lúc xác nổi lên, mọi người ra vớt, thì kinh hoàng với cảnh tượng đỉa bâu đen xác. Người dân phải dùng thòng lọng kéo xác ông lên bờ, rồi lấy que gạt từng con đỉa.
Bọn săn của đập nát sạch sẽ các cổ vật để tìm vàng bạc.

Cái chết của ông H. khiến người dân vô cùng sợ hãi, liên tưởng đến cuộc đào phá… “mộ hủi”. Tiếp đó, rất nhiều biến cố xảy đến với người dân nơi đây. Những gia đình gặp tai họa đều mang những thứ lấy từ mộ trả lại. Nhiều người đã nung những chân tảng, tượng đá thành vôi, dù đã tôi vôi, cũng gánh vôi ra trả. Nhiều người mang bàn, ghế, giường, tủ đóng bằng gỗ lấy dưới mộ cũng đem ra mộ đốt. Những cục đá dùng lăn lúa, kê bờ ao cũng được khiêng ra trả lại cho vua.

Ông Đào Văn Hồng vẫn còn sợ hãi khi nhớ lại cuộc đào mộ 20 năm trước. Tôi đến thăm ông khi ông đang nằm còng queo trong giường vì ốm. Vợ ông bảo, từ ngày đào mộ, ông Hồng trở nên ốm yếu hẳn, lại lắm bệnh tật.
Những súc gỗ đào từ lăng mộ vua Trần Nghệ Tông được người dân xẻ ra làm vật dụng. (Ảnh chụp những súc gỗ tương tự vừa đào được từ một ngôi mộ gỗ ở An Sinh).

Theo ông Hồng, sau cuộc đào phá mộ vua, cả xóm đều gặp vận rủi, các gia đình lục đục, đau ốm, vợ chồng đánh chửi nhau lung tung phèng… Ông Hồng rầu rĩ: “Không biết có phải vì người dân trong xóm xâm phạm mộ vua, rồi bị vua phạt hay không, mà cái xóm này cứ mãi nghèo xác nghèo xơ, nghèo nhất xã, nhất huyện”.

Ngày đào phá mộ, ông Hồng lấy gỗ, vợ ông gánh vôi về bón ruộng. Lúc gánh vôi thì vợ ông mang bầu, chửa 7 tháng. Khi đẻ, con đứa con đã chết vì nhau thai phủ mặt. Nói rồi, vợ ông Hồng dẫn tôi ra thăm mộ con bà. Ngôi mộ vừa được vợ chồng ông xây lại, nhỏ bé, xinh xắn.

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011

Con cháu trần gia sẵn sàng bảo vệ non sông của Tiên Tổ

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại thư

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành đã định ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời