Thứ Tư, 30 tháng 1, 2013

Triều đại nhà Trần lẫy lừng và những ông vua… “khác người”


Ngay khi lần giở lại các trang sử biên niên, đôi lúc không khỏi ngạc nhiên bởi ứng xử của những ông vua Trần rất… khác người!
  • Trong lịch sử vương quyền Việt Nam, nhà Trần hẳn nhiên là một triều đại lẫy lừng. Về võ công, đây là vương triều đã thống lĩnh quân dân Đại Việt ba lần chặn đứng vó ngựa cuồng phong của đạo binh viễn chinh Mông Cổ bách chiến bách thắng. Về văn hiến, đây là vương triều đã nhen lên ngọn lửa khai phóng, tập thành một trào lưu tư tưởng Thiền học vừa cởi mở vừa sâu sắc, mà đỉnh cao là sự xuất hiện của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Các vị vua Trần
Trong cả hai thành tựu lớn lao này, nếu phải nói đến sự đóng góp của những cá nhân xuất sắc, tất không thể bỏ qua các (không phải tất cả) hoàng đế của vương triều Trần, những con người mang chân dung kép: Là anh hùng chống ngoại xâm, đồng thời là Thiền giả uyên áo, hành sự không câu chấp.
Đó là những nhân cách có kích thước vượt trội, có tầm vóc ngoại cỡ. Không cần phải tìm sự thể hiện điều đó ở những “thời điểm mạnh” của lịch sử: Ngay khi lần giở trở lại các trang sử biên niên và bắt gặp các vua Trần trong những tình huống đời thường, đôi lúc chúng ta không khỏi ngạc nhiên và thú vị bởi ứng xử của những ông vua (có thể nói là) rất… khác người!
Trước hết là ứng xử của các vua Trần trong chuyện luyến ái hôn nhân. Trần Thái Tông (Trần Cảnh) giành được thiên hạ về tay họ Trần là nhờ vào cuộc hôn nhân (do Trần Thủ Độ dàn xếp) với công chúa Chiêu Hoàng nhà Lý. Món hồi môn ấy của Lý Chiêu Hoàng thật không hề nhỏ chút nào!
Tượng vua Trần Thái Tông.
Cứ ngỡ rằng “gái có công chồng chẳng phụ”, vậy mà khi Trần Thái Tông lấy – đúng ra là cướp – vợ của anh trai là An Sinh Vương Trần Liễu (cũng lại do Trần Thủ Độ chủ xướng), bà vợ cũ lập tức bị truất ngôi Hoàng hậu. Chưa hết, để thưởng công cứu giá của Lê Phụ Trần, ngoài chức Ngự sử đại phu, nhà vua còn “hào phóng” gả luôn Chiêu Hoàng cho người đã liều chết che tên cho mình. Nghĩa là, xem ra, với ông vua khai mở vương triều Trần này, vợ là “một cái gì đó” có thể lấy về hoặc cho đi một cách khá… thoải mái!
Chưa hết, khi Trần Quốc Tuấn (con trai của An Sinh Vương Trần Liễu) lẻn vào tư thông với Công chúa Thiên Thành ngay trước ngày cưới của Công chúa – và ngay tại tư gia của vị tân lang là Trung Thành Vương – bị phát hiện, nhà vua đã “bất đắc dĩ” (chữ trong sử) đem Thiên Thành công chúa gả cho Trần Quốc Tuấn rồi cho Trung Thành Vương hai ngàn khoảnh ruộng. Sự thiên vị quả là khá lộ liễu! Có lẽ trong trường hợp này Trần Thái Tông muốn chuộc lại phần nào cái lỗi đã cướp vợ của anh trai chăng?
Nói sao mặc lòng, cái quyết định “bất đắc dĩ” của nhà vua đã tạo nên một cảnh huống khá rắc rối trong quan hệ thân tộc của họ Trần: Trần Quốc Tuấn sẽ vừa là con trai vừa là em rể của Trần Liễu, vì Công chúa Thiên Thành chính là em gái của Trần Liễu và Trần Thái Tông!
Đây chỉ là một trong nhiều ví dụ về tinh thần “cởi mở” trong quan hệ nội hôn của vương triều Trần: Họ không lấy đó làm điều. Chẳng trách được khi về sau, cứ mỗi lần viết về việc hôn nhân của tôn thất nhà Trần, các Nho gia nghiêm cẩn như Ngô Sĩ Liên, Phan Phu Tiên hay Dực Tông hoàng đế Tự Đức đều… đay nghiến: “dâm loạn”, “buông tuồng”!
Trong cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất, khi vua tôi nhà Trần phải chạy giặc trên sông Hoàng Giang, gặp thuyền của một tên tiểu nhân hiệu là Cự Đà chèo ngược lại, người trên thuyền của Thái tử hỏi: “Quân Mông Cổ bây giờ ở đâu?”. Cự Đà – vốn trước kia nhà vua ban quả muỗm cho những người hầu mà quên không ban cho hắn, nên sinh bụng oán – trả lời: “Tôi không biết, các anh đi hỏi những người nào được ăn muỗm ấy”.
Giặc tan, Thái tử xin vua Trần Thái Tông trị tội Cự Đà thật nặng để răn bảo người làm tôi bất trung, không ngờ nhà vua trả lời: “Cái tội Cự Đà là lỗi ở quả nhân”, rồi tha cho Cự Đà. Nói rằng nhà vua là vị Hoàng đế có lòng nhân? Không sai. Nhưng cũng cần phải nói thêm: Đây là vị Hoàng đế có lối suy nghĩ và hành xử lịch lãm, rất cận nhân tình.
Không như những ông vua ở các triều đại sau luôn đòi hỏi thần dân lòng trung thành tuyệt đối và vô điều kiện, Trần Thái Tông hiểu rằng trung thành ở con người là một thứ tình cảm duy lý và bị điều kiện hóa. Không thể có lòng trung thành khi không có những yếu tố thuận lợi làm nảy sinh và những biện pháp khả dĩ nuôi dưỡng lòng trung thành.
Một quả muỗm, tuy là nhỏ, song nó lại là cái cho kẻ thần tử cân nhắc xem có “đáng” đánh đổi lòng trung thành với bậc đế vương hay không; và nó cũng là cái khiến nhà vua phải phản tư, rằng mình có “đáng” được nhận lòng trung thành của bề tôi hay không! Nội chi tiết này cũng đủ thấy: Để một con người “bé tí” dám “giận lây” và “trả đũa” vua nhân danh một sự công bằng trừu tượng nào đó, hẳn là cái phong thái sinh hoạt của xã hội Đại Việt thời Trần rất khoáng đạt, khoảng cách giữa hoàng đế và các thần dân chưa hề là một “khoảng cách sử thi” giống như ở các triều đại sau.
Đến giai đoạn trị vì của Pháp Thiên Ngự Cực Anh Liệt Vũ Thánh Minh Nhân Hoàng Đế, tức vua Trần Nhân Tông, người về sau sẽ lưu danh trong lịch sử tư tưởng Việt Nam bằng pháp hiệu Trúc Lâm đại đầu đà, có một câu chuyện nhỏ đã xảy ra.
Tượng thờ vua Trần Nhân Tông.
Số là, sau chiến thắng quân Nguyên lần thứ ba, vua Trần Nhân Tông ban chiếu đại xá cho thiên hạ. Theo chế độ cũ, mỗi khi có chiếu đại xá thì viên trung quan (tức quan hoạn) giữ chức Hành khiển sẽ tuyên đọc chiếu thư, còn việc soạn chiếu thư sẽ do Viện Hàn lâm phụ trách. Thường thì sau khi soạn chiếu thư xong, Viện Hàn lâm phải đưa cho quan Hành khiển xem trước, để đến lúc tuyên đọc cho đúng.
Lúc bấy giờ, Lê Tòng Giáo giữ chức Hành khiển, cùng với người soạn chiếu thư của Viện Hàn lâm là Đinh Củng Viên vốn không hoà hợp. Soạn xong chiếu thư rồi, nhưng Đinh Củng Viên cố tình không đưa bản thảo cho Lê Tòng Giáo xem trước, đến ngày tuyên chiếu mới đưa cho, vì thế Lê Tòng Giáo tuyên đọc không thông. Nhà vua phải bảo Đinh Củng Viên đứng bên nhắc. Được lời như cởi tấm lòng, tiếng nhắc của Củng Viên ngày càng to dần, át cả tiếng đọc của Tòng Giáo!
Sự việc xảy ra giữa hai viên chức phục vụ trong triều đình của Trần Nhân Tông, thực ra không có gì lạ đối với chúng ta, những con người của ngày hôm nay. Điều đáng nói ở câu chuyện giữa Tòng Giáo và Củng Viên là sự tham gia của Nhân Tông hoàng đế.
Sau lễ tuyên chiếu, nhà vua cho triệu Tòng Giáo đến, bảo: “Củng Viên là văn quan, nhà ngươi là trung quan, có việc gì mà không hoà hợp với nhau đến thế? Nhà ngươi làm lưu thủ ở Thiên Trường, rươi có, quýt có, đi lại tặng biếu cho nhau thì có hại gì?”. Tuyệt không phải là việc nhà vua phân định ai đúng ai sai, “theo nguyên tắc”. Chỉ là lời “tư vấn” mà thôi. Và cũng chẳng hề có chút nào hơi hướng quan phương trong nội dung “tư vấn” của Trần Nhân Tông.
Nhà vua giúp Lê Tòng Giáo giải quyết xích mích với Đinh Củng Viên không bằng tư cách của một vị Hoàng đế, mà là bằng tư cách của một người lão thực về nhân tình thế thái.
“Con rươi, quả quýt”, món quà biếu quá vặt để bị xem là của hối lộ (sự đảm bảo về danh dự cá nhân), ấy thế nhưng là thổ sản của một vùng quê, nó có thể chuyển tải sự thành tâm của người biếu tới người được biếu, nhờ đó làm cho quan hệ giữa hai người trở nên tốt đẹp hơn (sự đảm bảo về mục đích), vậy hà cớ gì không làm? Trước câu “mách nước” thấu tình đạt lý ấy, ông vua khó tính đến như Tự Đức cũng phải tâm đắc mà phê rằng: “Ông vua này có thể gọi là thiên tử hoà giải”!
Vua Trần Nhân Tông rời ngai vang đi tu
Cũng là ông “thiên tử hoà giải” này, khi cần, sẽ trở nên rất sắt đá. Sử chép rằng, trận thắng quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, quân ta bắt được các tướng Nguyên là Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc và Phàn Tiếp. Với Cơ Ngọc, nhà vua sai tòng nghĩa lang là Nguyễn Thịnh đưa trước về Trung Quốc. Phàn Tiếp bị bệnh chết, nhà vua hoả táng rồi cấp cho vợ con hắn đôi ngựa sai chở hài cốt mang về. Còn với Ô Mã Nhi, Trần Nhân Tông cấp thuyền cho hắn về cố quốc. Trên đường đi, thuyền bị đắm khiến Ô Mã Nhi chết đuối.
Sau đấy, nhà Nguyên có thư chất vấn và “hỏi tội” vua nước Nam về cái chết của Ô Mã Nhi, thì được Nhân Tông hoàng đế trả lời như sau: “Vì thuyền rỉ nước bị đắm, quan tham chính sức vóc to lớn, không sao cứu vớt được, thành ra chết đuối”. Đó là lối ứng xử hợp với lẽ phải thông thường, nhất là trong hoàn cảnh của một đất nước vô cớ bị ngoại bang giày xéo và lăng nhục tới lần thứ ba.
Nhưng, với tư cách chủ thể quốc gia, nhà vua vẫn có thừa thận trọng để tỏ thái độ trước Hoàng đế nhà Nguyên. Nói khác đi trong bức phúc thư là một cách nói khôn khéo, không làm tổn thương đến lòng tự ái của thiên triều. Và có thể cho rằng, nó cũng chính là ứng xử mang những nét rất đặc trưng trong quan hệ với đế quốc Trung Hoa của tất cả các vị vua sáng trong lịch sử Việt Nam.
Đến đời Trần Minh Tông, sử quan đã kịp ghi lại một “xen” đối thoại khá thú vị, qua đó hậu thế khả dĩ nắm được phần nào con người tinh thần của ông vua mà Phan Phu Tiên từng cho rằng “có tư chất nhân hậu”.
Khi có người dâng sớ nói rằng hiện dân gian có nhiều kẻ du thủ du thực, đến tuổi già vẫn không có tên trong sổ bộ, mà lại không đóng góp phu thuế và sưu dịch, thì vua trả lời: “Nếu không như thế thì sao gọi là cảnh đời thái bình? Nhà ngươi lại muốn ta bắt chúng nó làm nên trò trống gì nữa?”. Một cách nghĩ không thể “hiện đại” hơn được nữa!
Trong sự hình dung của vua Trần Minh Tông, “cảnh đời thái bình” – một xã hội không chiến tranh, có trật tự, kỷ cương – không phải là một xã hội mà tất thảy mọi thứ đều nằm trong khuôn phép, đều được “mã hóa” nhất nhất theo một nguyên tắc có sẵn. “Cảnh đời thái bình” chỉ thực sự là cảnh đời thái bình khi trong đó tồn tại những mảnh vụn bị văng ra và không chịu lực hút của quỹ đạo hướng tâm (tất nhiên, với điều kiện là những mảnh vụn ấy không trở thành những phản lực).
Vua Trần Minh Tông (1300 - 1357 )
Những kẻ du thủ du thực nói trên, trong cách nghĩ của Trần Minh Tông, chính là những “vật trang sức” cho chế độ: Nó cho thấy sự bao dung của nhà cầm quyền trong việc chấp nhận sự tồn tại của cái ngoài khuôn khổ, nó chứng minh khả năng chung sống của cái chính thống với cái dị kỷ.
Và, đây mới thực là điều quan trọng: “cảnh đời thái bình” phải được/ bị điều kiện hóa bởi những “lỗ thông hơi” cho phép con người sống trong đó có thể (đôi lúc) hô hấp bằng những luồng không khí khác. Xem ra, cách nghĩ của Minh Tông hoàng đế cũng không khác là mấy với cách nghĩ của con người sống trong các xã hội dân chủ hiện đại, dù ông là người của hơn 600 năm trước!
Trên phương diện lịch sử, cho đến hết thời Trần, Nho giáo vẫn hoàn toàn chưa được xác nhận và chưa được triển khai trong đời sống như một hệ tư tưởng chính thống. Bản thân các vua Trần – nhất là một số vị như đã kể trên – về tư tưởng, chính là những Thiền giả. Bởi thế mà khi vận hành phương châm trị nước gồm bốn chữ “Khoan, Giản, An, Lạc”, các vua Trần đã hiện diện xuyên qua lịch sử như là những nhà cầm quyền với lối suy nghĩ và cách hành xử đầy cởi mở, phóng khoáng, không câu nệ, không định kiến, và đặc biệt là gần dân.
Phong thái đế vương kiểu này không hẳn đã nhận được sự tán thành của lớp sử gia – Nho thần đời sau, những người luôn bị ràng buộc bởi các khái niệm “chính”, “danh”, “lễ” v.v… Nhưng nó gần với chúng ta, những con người của thế giới hiện đại, và vì thế mà phải chăng có thể nói rằng, triều Trần với những ông vua “khác người” hình như chưa bao giờ là cũ?

Thứ Năm, 24 tháng 1, 2013

Triều đại nhà Trần: Thuận hoà vì nghĩa lớn

Xét theo sách "Đại Việt sử ký toàn thư" (ĐVSKTT), nhà Trần đã phải chịu không ít long đong trước khi được trở thành triều đại tiếp nối nhà Lý trị vì đất Việt.  Và khi đã là hoàng tộc rồi, trong nội bộ nhà Trần cũng liên tiếp xuất hiện những mâu thuẫn lắm khi cực kỳ gay gắt.

Thế nhưng, chính nhờ biết cách vượt lên trên hiềm khích và mâu thuẫn để "kết đoàn lại chúng ta là sức mạnh" mà nhà Trần đã trở thành một trong những triều đại lập được nhiều võ công hiển hách nhất trong lịch sử nước ta.
Không cố chấp
Ngay trong đời đầu tiên của nhà Trần đã xảy ra một chuyện tày đình khiến vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) và người anh ruột Trần Liễu bỗng dưng phải ở vào thế rất khó nhìn mặt nhau. Số là, Trần Liễu vốn lấy vợ là công chúa Thuận Thiên (tên húy là Oanh), con gái cả của vua Lý Huệ Tông với hoàng hậu Trần Thị Dung (bà Trần Thị Dung cũng là cô ruột của Trần Liễu).
Hai người đã có một người con trai tên là Trần Doãn, không rõ năm sinh (Trần Liễu còn là cha của Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung, sinh năm 1230; Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, sinh năm 1232; Trần Thị Thiều, tức Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu, vợ vua Trần Thánh Tông, mẹ đẻ vua Trần Nhân Tông). Tới năm 1237, Thuận Thiên lại có mang một người con trai. Trong khi đó, hoàng hậu Chiêu Thánh (Lý Chiêu Hoàng),  vợ vua Trần Thái Tông, sau khi sinh được một đứa con là hoàng tử Trần Trịnh (chết yểu), gần 10 năm qua mà mãi vẫn không thể hoài thai lại được.
Để bảo vệ quyền lợi của dòng họ, Thái sư Trần Thủ Độ cùng công chúa Thiên Cực (vốn là hoàng hậu của vua Lý Huệ Tông nhưng năm 1226 đã bị giáng xuống gả cho Trần Thủ Độ) đã bàn tính với nhau buộc Trần Liễu phải để cho Thuận Thiên (lúc này đang có mang ba tháng) trở thành hoàng hậu, thay cho Chiêu Thánh bị giáng xuống làm công chúa.
Tức giận vì bị mất vợ cho chính người em ruột, Trần Liễu đã dấy binh ra sông Cái làm loạn. Bản thân nhà vua cũng cảm thấy rất áy náy trong lòng nhưng đã ngồi ngôi cao thì phải coi việc nước lớn hơn việc nhà (!). Dẫu vậy, vua Trần Thái Tông vẫn rất xót anh trai.
Tượng đài Trần Hưng Đạo ở quảng trường 3-2, TP Nam Định.

Chính vì thế nên hai tuần sau đó, khi tự lượng sức mình đem trứng chọi với đá, Trần Liễu  đã bí mật đi thuyền độc mộc giả làm người đánh cá tìm tới chỗ nhà vua xin chín bỏ làm mười, vua Trần Thái Tông đã rưng rưng nước mắt nhìn anh. Thậm chí ngay cả khi ông chú họ nghiêm khắc tới tàn nhẫn Trần Thủ Độ (cha Trần Thủ Độ là ông Trần Hoằng Nghi, là em ruột ông Trần Lý, mà ông Trần Lý  lại là cha ông Trần Thừa, và ông Trần Thừa là cha của Trần Liễu và Trần Cảnh) khi hay tin hầm hầm xông tới rút gươm đòi chém Trần Liễu, vua Trần Thái Tông đã lấy thân mình ra che cho anh và tìm cách hòa giải…
Rồi nhà vua còn cho anh mình lấy các vùng Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang (nay thuộc hai huyện Đông Triều và Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh) làm đất thang mộc. Trần Liễu về sau có tên hiệu Yên Sinh vương là nhờ thế.
Tất nhiên, Trần Liễu không bao giờ nguôi ngoai nỗi đau bị mất vợ cho chính người em trai, nhưng ít ra, ông đã không làm điều gì náo động thêm để ảnh hưởng xấu tới việc triều chính. Về sau, ông chỉ âm thầm thổ lộ tâm sự của mình với người con trai mà ông cho là tài ba lỗi lạc nhất của mình là Trần Quốc Tuấn.
Biết phận, không ham ngôi báu
Trở thành vợ của người em ruột chồng cũ chỉ dăm sáu tháng, cuối năm 1237, Hoàng hậu Thuận Thiên đã sinh ra Trần Quốc Khang và người này được coi như là con trưởng của Vua Trần Thái Tông. Tháng 9/1240, Hoàng hậu Thuận Thiên lại sinh hạ một người con trai khác với chính nhà vua là Trần Hoảng và tiếp theo, tháng 10-1281, sinh hạ Trần Quang Khải.
Tiếng là con trưởng nhưng Trần Quốc Khang không được trở thành thái tử. Ngôi vị này được dành cho người con trai thực sự của hoàng hậu Thuận Thiên và vua Trần Thái Tông là Trần Hoảng. Năm 1258, vua Trần Thái Tông đã nhường ngôi cho thái tử Trần Hoảng, lúc này đã 18 tuổi, tức vua Trần Thánh Tông, còn mình lên làm Thái Thượng hoàng.
Sách sử chép rằng, Trần Quốc Khang trong hoàn cảnh đó đã rất hiểu đời và thời thế nên luôn cảm thấy thoải mái trong mọi mối quan hệ. Nếp sống trong gia tộc nhà Trần thời đó khá hồn nhiên và gần gụi. Quốc Khang thường cùng vua em đùa chơi ngay cả trước mặt Thượng hoàng. ĐVSKTT kể, một lần, mùa đông tháng 10-1268, khi Thượng hoàng đang mặc áo bông trắng, Quốc Khang múa kiểu người Hồ rất duyên nên được cha cởi áo đó ban cho. Vua em thấy anh được áo cũng nhảy ra múa kiểu người Hồ để vòi Thượng hoàng "chia cho đều, kêu cho sòng". Thấy vậy, Quốc Khang bèn nói:
- Quý nhất là ngôi vua, tôi đã không tranh với chú hai rồi, nay đức chí tôn cho tôi thứ nhỏ mọn này mà chú hai cũng muốn cướp sao?!
Thượng hoàng nghe vậy cả cười, khen Quốc Khang coi ngôi vua cũng chỉ ngang bằng tấm áo xoàng mà thôi…
Hiểu rõ năng lực và hoàn cảnh riêng của mình, nên Trần Quốc Khang không bao giờ khác ý với vua Trần Thánh Tông, mặc dù người cha thực của ông (Trần Liễu) cho tới phút lâm chung vẫn đau đáu một niềm phục hận. Vua Trần Thánh Tông cũng đánh giá rất cao thiện ý của ông anh thực chất chỉ cùng mẹ nhưng khác cha này và đã đối xử với Trần Quốc Khang một cách hậu hĩnh, dù biết rằng ông không phải là người có tài kinh bang gì nhiều lắm. Tháng 9-1269, Trần Quốc Khang được phong làm Vọng Giang Phiêu kị đô thượng tướng quân. Tháng 3-1270, ông được cử đi giữ việc cai trị Diễn Châu. Nghe nói, tại đó ông đã cưới một bà vợ lẽ rất đẹp… Ông mất năm 1300…
Anh em đồng chịu
Cũng phải nói rằng, dưới thời vua Trần Thánh Tông, các quan hệ trong nội tộc nhà Trần càng được chú trọng trên nguyên tắc tình anh em là trên hết. ĐVSKTT đã chép, năm 1268, nhà vua đã nói với các tôn thất: "Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông phải cùng hưởng phú quý với anh em trong họ. Tuy bên ngoài có một người được tôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt. Lo thì cùng lo, vui thì cùng vui. Các khanh nên truyền những lời này cho con cháu, để chúng đừng bao giờ quên, thì đó là phúc muôn năm của tông miếu xã tắc".
Và vua Trần Thánh Tông đã xuống chiếu cho các vương hầu tôn thất, khi bãi triều thì vào trong triều để cùng nhau ăn uống một cách thân thiết với vua. Nếu hôm nay ăn xong mà trời tối rồi thì vua tôi "cùng xếp gối dài, trải chăn rộng, kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý nhau" (ĐVSKTT).
Chính cách cư xử như thế đã giúp cho hoàng thân quốc thích nhà Trần "không ai là không hòa thuận, kính sợ và cũng không ai phạm lỗi khinh nhờn, kiêu căng" (ĐVSKTT), dù có chuyện gì đi chăng nữa vẫn duy trì được các mối quan hệ anh em, cha con, họ mạc hòa thuận, chân tình. Mối thâm tình đó rất hữu ích khi xã tắc lâm nguy "ba phen chồn ngựa đá".
Xã tắc trên hết
Tháng 4/1251, Yên Sinh vương Trần Liễu qua đời ở tuổi 41. Khi hấp hối, ông đã dặn người con trai Trần Quốc Tuấn mà ông rất kỳ vọng và đã dày công tìm người hiền tài về dạy dỗ: "Con không vì cha lấy được thiên hạ thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được!".
Nghe thì nghe vậy, nhưng trong sâu thẳm tâm can, Trần Quốc Tuấn không cho rằng đấy là việc làm đúng đắn. Đối với thiên tài lỗi lạc này, sự ổn định và phát triển của xã tắc phải là trên hết, mọi tính toán cá nhân không bao giờ được làm mờ đi cái đích chí tôn cao cả này.
Chính vì thế nên ông rất lấy làm tâm đắc với lời của hai gia nô thân tín là Dã Tượng và Yết Kiêu, khi ông nói lại với họ lời cha trăng trối và hỏi xem có nên thừa lúc mình đang quyền cao chức trọng mà thu lấy ngôi vua vào tay mình hay không. Hai người này tâu: "Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu!".
Ông cũng đã khen ngợi người con cả Hưng Vũ vương Trần Quốc Hiến đã nói được câu nghĩa khí: "Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ" khi ông ướm lời giả vờ hỏi: "Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?"…
Ông đã nổi giận khi nghe người con thứ là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng thốt ra lời rằng: "Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ" khi ông cũng đặt ra câu hỏi tương tự. Thậm chí ông còn mắng: "Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra" và định xuống tay với Quốc Tảng. Chỉ khi Hưng Vũ vương chạy tới khóc xin chịu tội thay em, Trần Quốc Tuấn mới tha nhưng vẫn dặn: "Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng!".
Cũng chính vì biết tấm lòng trung trinh với nước, với hoàng gia của Hưng Đạo vương nên vua Trần Nhân Tông đã rất tin cậy ở Trần Quốc Tuấn. Tháng 10-1283, trong cuộc tập trận thủy bộ lớn để chuẩn bị kháng chiến chống quân Nguyên Mông, vua Trần Nhân Tông  đã phong Trần Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế  thống lĩnh quân đội toàn quốc, quyền hành nghiêng thiên hạ.
Và càng ở vị trí cao, Trần Quốc Tuấn càng tỉnh táo trong hành xử để không làm nảy sinh những hiềm nghi không đáng có trong hoàng tộc. Năm 1285, khi cuộc chiến đấu với kẻ thù hùng mạnh và đông đảo tới từ phương Bắc đang trong giai đoạn khó khăn nhất, gặp lúc ta yếu thế, Trần Quốc Tuấn phải xa giá nhà vua phiêu dạt trên sông, tới dòng Ba Chẽ, Quảng Ninh hiện nay.
Lúc ấy chạy theo vua trong cảnh binh đao, tay ông có chống chiếc gậy có bịt sắt. Một số người thân cận ở bên vua thấy vậy có vẻ nghi hoặc và gườm gườm nhìn vào ông. Thế là Trần Quốc Tuấn đã rút ngay cái đầu sắt nhọn ném đi, chỉ còn lại cây gậy gỗ không để chống mà đi… Sách ĐVSKTT có ghi rằng, những chuyện đại loại như thế  còn nhiều.
Sử gia Ngô Sỹ Liên, người sống ở thế kỷ XV, về sau bình: "Bậc đại thần ở vào hoàn cảnh bị hiềm nghi nguy hiểm, tất phải thành thực tin nhau, sáng suốt khéo xử như hào cửu tứ của quẻ Tùy thì mới có thể giữ tròn danh dự, làm nên sự nghiệp. Nếu không thế thì nhất định sẽ mang tai họa…".