NGỌC PHẢ TRẦN TRIỀU TIẾT
CHẾ QUỐC LÃO
HIỂN TƯỚNG ĐẠI VƯƠNG
LAN ANH - VĂN QUÝ
Sở Văn hóa Thể thao Du
lịch Hà Nội
Đền Bắc Lãm,
thuộc thôn Bắc Lãm, xã Phú Lương, thành phố Hà Đông. Xưa, vào thời thuộc Minh
gọi là huyện Ứng Bình, phủ Giao Châu, sang thời Lê đổi thành phủ Ứng Thiên. Vào
triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long thứ 13 (1814) gọi là phủ Ứng Hòa. Trước đây,
thôn Bắc Lãm, xã Phú Lương thuộc huyện Thanh Oai, theo sách Đại Nam
nhất thống chí cho biết: Tên Thanh Oai thấy nhắc đầu tiên từ thời nhà
Lý, tức năm Trị Bình Thiên Ứng thứ 3 (1207), triều Lý Cao Tông gọi là Thanh Oai
hương, sau đổi là huyện Thanh Oai. Vào cuối thế kỷ XIX, thôn Bắc Lãm thuộc
thành phố Hà Nội, đến năm 1991, tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hà Tây và
Hòa Bình, thôn Bắc Lãm thuộc Hà Tây. Và đến ngày 1 tháng 8 năm 2008, thuộc
thành phố Hà Nội. Hiện tại, ngôi đền toạ lạc rìa làng, trên một thế đất đẹp, từ
làng vào đền phải đi qua một đoạn đường nhỏ, rộng chừng 02 mét và dài khoảng
500 mét, do vậy ngôi đền khá xa khu dân cư nên tạo được một không gian tĩnh
lặng, thâm nghiêm ít có ngôi đình, ngôi chùa nào có được. Ngôi đền có kết cấu
kiến trúc chữ Nhị gồm Đại bái, hậu cung và một số công trình bổ trợ khác. Khi
chúng tôi tiến hành khảo sát, nghiên cứu ngôi đền để trình UBND tỉnh Hà Tây
(cũ) xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá được các vị cao niên truyền kể, ngôi
đền thờ Đức thánh Trần, Tướng quân Phạm Ngũ Lão và Công chúa Anh Nguyên. Kết
cấu kiến trúc ngôi đền còn khiêm tốn, các mảng chạm khắc trên các bộ vì mang
dấu ấn đậm nét thời Nguyễn nhưng số lượng di vật khá phong phú với nhiều chất
liệu khác nhau như bát hương, hương án, tượng Đức thánh Trần, Danh tướng Phạm
Ngũ Lão, Công chúa Chiêu Anh..., nhóm di vật giấy có 05 đạo sắc phong gồm 01
sắc Cảnh Hưng thứ 40 (1779); 02 sắc Cảnh Thịnh thứ 7 (1799); 01 sắc Thiệu Trị
thứ 4 (1844) và 01 sắc Tự Đức thứ 22 (1860). Đáng chú ý hơn cả chính là bản
Ngọc phả Trần triều Quốc lão hiển tướng đại vương. Bản Ngọc phả này gần như còn
nguyên vẹn, được cổ nhân viết trên giấy dó thể chữ chân, khổ 15 x 20, gồm 15
tờ. Sau khi chúng tôi dịch nghĩa, nhận thấy đây là một văn bản hay, giàu chất
sử liệu, văn liệu... nên chúng tôi gửi tới Quý viện để tham gia Hội thảo Hán
Nôm học năm 2008.
NGỌC PHẢ TIẾT CHẾ QUỐC LÃO HIỂN
TƯỚNG ĐẠI VƯƠNG TRIỀU TRẦN
Nước Việt xưa, trời Nam mở vận, Thánh tổ gây dựng cơ đồ hơn
hai nghìn năm, Hùng Vương dựng hiệu, trải đến các vị minh quân triều Đinh, Lê,
Lý, Trần đều chuẩn cho huyện Chí Linh, phủ Thiên Tường, xứ Nam Định, tức Mặc
Trại có họ Trần, vốn là đại thần của Lý đế. Khi ý trời cáo chung, cơ đồ nhà Lý
mạt, Nữ quân Chiêu Hoàng lên ngôi, Trần Thủ Độ phụ chính, điều hành quốc sự. Khi
ấy có cháu là Trần Dung công vào làm Nội thị, dung mạo khác thường, Nữ quân
Chiêu Hoàng vui vẻ nhường ngôi, thiên tâm đã định ở nhà Lý, nhà Trần không
chiến mà thành, há chẳng phải ý của đất trời! Vậy có thơ rằng:
"Phút chốc khuynh thành há chiến tranh
Thiên tử đăng ngôi tự nhiên thành
Đều do thiên mệnh lòng người thuận
Bách quỹ qui về bậc đức danh".
Lại nói, Trần Thái Tông nối nghiệp Lý gia (vua họ Trần, húy
Dung, tiên tổ họ Mân, 4 đời sống ở Lang Mặc, cha là Trần Thừa, mẹ là Lê Thị An,
vua là con thứ, anh trai là Liễu công, chú là Trần Thủ Độ. Vua ở ngôi 33 năm,
thọ 60 tuổi. Vua thuở nhỏ thông minh thánh triết, đại độ chí nhân, có khí tượng
của bậc đế vương). Thời ấy, anh vua là Trần Liễu công, tuổi ngoại 30, phụ mẫu
trước đây đều là dân miền sông nước, mộng thấy giao long nhập miệng mà sinh
Liễu công, ông tính bẩm thông minh trí tuệ, tài đức hơn người. Khi vua được
nước mà lên ngôi phong Liêu huynh làm Thái úy, nhậm phủ Thanh Hóa. Liễu công
lấy gia nữ họ Lã ở trại Vạn Kiếp làm Chính phi (húy Hồng), nên vợ nên chồng qua
khoảng mấy năm uyên ương thắm thiết, cầm sắt giao hòa, sớm ứng mộng lân. Một
hôm, Lã nương nằm ở phía lầu tây rồi ngủ thiếp đi, mộng thấy mây ngũ sắc bay từ
trên trời giáng xuống hoá thành người đi đến trước mặt, trong mây lại thấy hai
thanh đồng, một người mặc áo xanh, một người mặc áo đỏ. Đồng tử áo xanh, tay
cầm trượng đỏ đầu vàng, đồng tử mặc áo đỏ cầm kim đao. Hai đồng tử giao chiến,
đồng tử áo đỏ thua chạy, đồng tử áo xanh truy đuổi trảm được đồng tử áo đỏ rồi
mang đầu đi bộ trở lại nhập thẳng vào bụng Lã nương. Phi tỉnh giấc biết đó là
mộng, thế rồi đem việc đó kể với Liễu công. Liễu công bèn bảo với Phi rằng:
“Nhà ta phúc hậu mà trời ban cho, việc ấy tất có thiên thánh giáng trần, ắt
sinh ra tuấn kiệt, không phải là cái mộng bình thường”. Sau đó, Lã nương có
mang 13 tháng, vào ngày 10 tháng 3 năm Ất Mão thì sinh hạ được một người con
trai, thể mạo sáng ngời, tư chất vời vợi, mặt như chữ điền, ngũ nhạc chầu
thiên, mi Nghiêu mắt Vũ, vai Vũ mày Thang, thật là kỳ nhân trên đời. Trong lúc
sinh, mây hồng một phiến từ trời giáng xuống nhập thẳng vào phòng, ánh sáng huy
hoàng, ngát thơm khắp phòng. Sau khi sinh được trăm ngày, cha mẹ yêu quý như
châu ngọc bèn đặt tên là Tuấn công.
Thời ấy, Thái úy Liễu công vâng mệnh vua đi chinh phạt Chiêm
Thành, khi dẹp xong trở lại kinh đô, vua tái phong làm Càn vương, cung phi làm
Chánh thái hậu. Khi ấy ông đã thôi nhiệm phủ Thanh Hóa. Bấy giờ, Thái Tông nghe
nhiều gian mưu của Thủ Độ, muốn cướp thiếp của Liễu huynh (tức là cung phi của
triều Lý) cưới làm vợ lẽ. Lòng Liễu công đại giận, làm loạn Văn Giang, ông gửi
Tuấn công sống với cô ruột (tức là muội của Liễu công) là Thuỵ Ba công chúa.
Năm ấy Tuấn công bẩy tuổi, thật là người có anh tài, dũng lược, mưu trí khác
người thường. Cũng vì Liễu công hận vua mà làm loạn Văn Giang nên Công chúa
Thuỵ Ba lo sợ bụng dạ Trần Thủ Độ, không bắt Liễu công ắt bắt con của ông mà
hành tội, bèn đem Tuấn công chạy tìm nơi khác để giấu nuôi dưỡng. Hôm đó, Thụy
Ba công chúa sai thân nhân giả làm người buôn bán đem ông (tức Tuấn công) giấu
đi. Một hôm, có người đưa ông đến xã Khúc Thủy, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên,
xứ Sơn Nam Thượng. Bấy giờ, đất Khúc Thủy có một ngôi chùa lớn cạnh đường cái
ven sông, gọi là chùa Trì Long (sau này Lê Thái Tổ đổi làm chùa Trì Bồng), có
người họ Lý làm Thống nhân giữ chùa tên là Đạo Huyền, người này có kỳ binh linh
nghiệm, dị thuật kỳ tài. Thống nhân nhìn thấy ông hỏi rằng: “Phụ mẫu của ông xứ
nào, có thể cho biết danh tính được không?”. Tuấn công trả lời: “Cha mẹ vốn là
thường dân buôn bán, bởi bị thua lỗ mà nợ nhiều, cho nên dắt đem con thơ chốn
đi nơi khác để nuôi dưỡng vậy”. Thống nhân nghe vậy lại nhìn thể mạo khôi ngô
của ông, trong lòng thương cảm bèn bảo người kia rằng: “Ta muốn truyền đạo pháp
cho đứa bé này, hôm nay gặp gỡ tất là từ tâm dẫn đến cửa thiền, muốn nuôi dưỡng
có được không?”. Người kia trả lời: “Vâng!”. Rồi đồng ý gửi ông ở đó và trở về.
Từ đó, ông theo Thống nhân thụ truyền đạo pháp, trải qua ba năm tâm truyền khẩu
thụ kỳ môn, dị thuật, ông đều nhập hết trong lòng, đã đắc được cái đạo ấy.
Khi ấy, đất xã Khê Tang có cây cổ thụ, tán kéo dài hai ba
nơi, gốc ở đường ngõ bản ấp, thường có yêu khí tụ tập ở đây. Nhiều người trong
ấp bị hại, yêu khí biến hiện bất thường, có thể làm tật bệnh lây truyền. Lúc
này, nhân dân nghe ở chùa Khúc Thủy có vị Thống nhân trụ trì, đạo cao, đắc
pháp, nhân dân xa giá đến đón. Chẳng may, vị Thống nhân đi trợ giúp nơi khác,
đường xa chưa về, chỉ có Tuấn công ở đó, nhân dân hỏi ông: “Sư thống du ở
phương nào, thanh tiểu có thể cho biết được không?”. Ông trả lời:“Tôi không
phải là Thanh đồng, không phải tiểu trong chùa. Nhân dân có việc gì mà hỏi Sư
trưởng, nếu có thể giúp, tôi nguyện thay ông cũng giúp được vậy!”. Nhân dân
nghe vậy, ngầm nghĩ Thanh đồng tuổi nhỏ, ngôn ngữ chẳng phải người thường lấy
làm việc lạ. Nhân dân lại hỏi rằng:“Nhân dân địa ấp nhiều người bị tật bệnh
hoành hành, ông có thể giúp được không?”. Ông lại nói:“Việc nước phải giúp yên
ổn há yêu khí nào mà làm khó được”. Nhân dân nghe vậy liền đón ông về ấp. Hôm
đó, ông về đến địa ấp (tức Khê Tang) thì tối, nhân dân trong ngõ ấp nghe tiếng
của nhiều người khóc lóc, tiếng nói trong ấp ngoài ngõ, trên tường, trong cổng
cùng nói rằng:“Dân chúng nay có chủ quản đến nắm giữ, chúng ta chạy mau, nếu
còn kéo dài tất bị chủ quản bắt tội”. Nói xong, lại khóc ầm ĩ rồi nhau bỏ chạy.
Nhân dân cho đấy là việc lạ, cùng họp lại nói với Tuấn công. Vừa sáng sớm, ông
truyền nhân dân thiếp lập đàn tràng, trai giới cầu đảo, tế lễ trời đất, truyền
nhân dân mua giấy ngũ sắc rồi đứng trước đàn (đàn tràng dựng ở đầu ngoài phía
phải bãi đất, bên trái nơi đường ngõ dân đi, giữa gốc cây cổ thụ nơi phát ra
yêu khí), miệng niệm thần chú, đặt giấy ngũ sắc ở trong đàn, thiếp lập một đàn
nhỏ. Ông niệm chú xong, một trận gió nổi, lôi đình dữ dội, trời đất u minh, cây
cổ thụ bị hủ mục rồi gẫy, rồi thấy giấy ngũ sắc tán bay hết lên trời, được một
lát trời lại sáng trở lại, xuất hiện một con đại xà dài hơn mười trượng nằm
chết ở gốc cây, giấy ngũ sắc quấn quanh thân con xà, trong khoảnh khắc con xà
biến thành nước. Từ đó nhân dân yên ổn, mãi mãi không còn yêu khí hoành hành.
Hôm đó, nhân dân (tức Khê Tang) hành lễ tạ ơn và xin làm tôi con của ông, ông
bèn bảo với nhân dân rằng:“Ta nay trong bước tang bồng, vả lại gia thế lại có
phúc hậu đều là vì dân, há lại ở trên dân được chăng! Nay đến với nhân dân, cậy
nhờ Đạo sư học đạo ở Khúc Thủy đắc đạo pháp để giúp hoạn nạn của dân kết thành
nghĩa lớn, há chẳng phải đạo trời dẫn đến, nhân dân ở đây đã có lòng hậu báo,
ta cũng bằng lòng”. Ông viết thêm cho nhân dân mỹ tự, tên huý để nhân dân phụng
tự và trấn yêu tinh không thể phục khởi. Ông lại nói với nhân dân rằng:“Dựng
một nhà nhỏ, mỗi tháng hai kỳ đến ngày sóc vọng thiếp lập hiệu của ta, bí mật
nguyện cầu ta đến để giữ chấn yêu tinh rồi sau tự sẽ ổn”. Nhân dân, phụ lão đều
theo mệnh ông. Xong việc, ông trở về chùa Khúc Thủy, khi đó bỗng thấy binh sỹ
loan giá đến đón ông, người đứng đầu thưa với ông rằng: “Nay vua đã dụ Càn
Vương hồi triều, tái thăng làm Hiển hoàng, nay mệnh tiểu thần đón ông về triều
thống soái nhân dân”. Nhân dân Khúc Thủy và Khê Tang thấy vậy, tất cả đều tròn
mắt kinh ngạc, ngay hôm trước đó (tức ngày 10 tháng Giêng) hành lễ bái lạy chúc
mừng. Ông tạ lễ trước Phật và đón Thống sư về kinh thành để báo đáp đạo thầy
phụng dưỡng (sau này, Thống sư hoá tại Hoan Châu, tức đất Nghệ An, cũng có lập
miếu phụng tự ở đất Khổng Tước, Hoan Châu). Việc trong chùa đều ủy thác cho
nhân dân bảo giữ. Từ đó, nhân dân xã Khúc Thủy, xã Khê Tang biết Tuấn công là
chi phái của tông thất hoàng gia đều nhất mực kinh sợ, nguyện theo làm tôi con
của ông
Lại nói, từ khi theo giá hồi triều, năm đó Tuấn công đã 21
tuổi mới nhập điện vua, khấu tạ bệ ngọc, diện kiến mặt rồng. Vua thử tài năng
của ông thì quả thực là anh hùng quán thế, dũng lược hơn người, thật là có kỳ
mưu dị thuật, bèn ban chỉ và sủng ái, ông sớm tối bên cạnh vua, triều đình cử
ông làm Hành khiển điển vệ tướng quân, phòng ngự biên giới phía bắc.
Bấy giờ, quân Nguyên đóng tại Vân Nam đã hai năm mà không dám xâm
phạm địa phận nước ta. Tháng 2 năm Mậu Ngọ, giặc Mông (cũng là quân Nguyên) hơn
30 vạn quân tiến đến xâm lược nước Nam . Nhà vua phong Tuấn công làm
Tiết chế kiêm Tả hữu thuỷ bộ tướng quân, đem 60 vạn binh, phân đạo lập đồn. Từ
Tam Đái đến đường lớn, ven các con sông Nguyệt Đức, Bạch Đằng, Lục Đầu ở phía
bắc kinh thành thông các xứ Hải Dương, Sơn Nam Thượng đến các đường lớn, bờ
sông ở Chân Định đều thiết lập đồn doanh để đón giặc Mông Cổ, phân đạo đánh
giặc. Trần công (tức Trần Quốc Công) ở chính đạo tiến thẳng đến xã Khê Tang,
huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, xứ Sơn Nam. Hôm đó là ngày 12 tháng 3, nhân dân
hành lễ bái giá. Ông bèn quan sát địa thế bờ sông ở đây, tức nhánh nhỏ sông Tô
Lịch rồi thiếp lập một đồn để chế ngự quân giặc. Dân binh tráng lực ở xã Khúc
Thủy nguyện theo ông làm gia thần thủ túc, ông tuyển làm Nội đao được 37 người.
Dân binh tráng lực xã Khê Tang cũng nguyện theo ông làm gia thần thủ túc, ông
tuyển được 211 người. Sau khi thiết lập đồn doanh xong, ông xa giá cử binh tiến
đến huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, Hải Dương thiết phân đồn. Sau đó, ông trở
lại ba xã ở huyện An Lạc, phủ Tam Đái, xứ Sơn Tây, thị sát đồn rồi hồi binh ngự
chiến tại đồn Thọ Lão và Chu Thần.
Khi đó quân Mông rất mạnh, nhà vua thân chinh ngự chiến tại
các vùng đất ở sông Lô, sông Thao. Hai đạo quân hùng mạnh của giặc tiến tới,
một đạo chia binh tiến đến phủ Tam Đái, nhà vua thoái binh về kiên thủ ở sông
Lô, sông Thao, mệnh cho bề tôi truyền hịch báo Tuấn công. Khi ấy, Tuấn công
đang ngự thủ ở đồn Chu Trần, nghe sứ của vua cấp báo quân Mông đã tiến đến sông
Bạch Hạc, phủ Tam Đái. Ngay trong ngày, Tuấn công bèn sai sứ thần truyền hịch
thông báo các đồn binh từ sông Nguyệt Đức đến sông Bạch Đằng, sông Lục Đầu cho
đến các địa giới đồn Thượng Hồng, Khúc Thủy, Khê Tang chuẩn bị vũ khí, tả hữu
hai bên bờ sông ứng chiến. Vừa sáng sớm, Tuấn công phân đạo binh nghênh chiến,
trông xa thấy quân Mông đông mạnh, tiếng giặc khởi dậy lôi đình, chiêng trống
liên hồi kinh thiên động địa. Tuấn công mệnh cho Thí công cầm 500 binh tiên
phong dẫn chiến, giả bại khiến quân Mông dốc tiến để chiến. Vừa đến đồn Vân
Thủy, binh trượng bốn mặt cùng hiệp công, Tuấn công tiếp chiến phía sau, binh
của vua cùng bẩy vị Đinh Sơn đem quân từ Sơn Dương, Tam Dương tiến thẳng đến
hiệp chiến. Một trận đại bại, quân Mông Cổ chạy thẳng đến thành Thăng Long, lại
thêm một trận chiến lớn, quân Mông Cổ đại bại chạy tan tác đến huyện Thanh Oai,
phủ Ứng Thiên, xứ Sơn Nam Thượng. Tuấn công truy đuổi đến nơi, bèn truyền đồn
Khê Tang xuất chiến, quân Mông Cổ chạy về sông Bạch Hạc. Khải công đốc lãnh
binh các đồn chuẩn bị khí giới xuất chiến. Tuấn công, Khải công chia đường hiệp
công, truy trảm hơn 1.000 đầu giặc vứt xuống sông Bạch Đằng, máu nhuộm đỏ sông,
quân Mông tan tác, băng đảng còn lại chạy thẳng đến Đông Bộ Đầu. Vua cùng Tuấn
công lại đốc chư tướng truy đuổi, trảm tỳ tướng và binh tốt quân Mông, bắt sống
hơn 3.000 tên. Tuấn công lại lệnh cho trại A Bổng tiếp tục nghênh chiến, quân
Mông lại bại, chạy về Bắc quốc.
Giặc Mông đã thảo phạt xong, nhà vua hiệu triệu binh lính,
tướng sỹ các đạo hồi thành đô, mở tiệc lớn khao binh sỹ, ban thưởng ba quân, gia
phong binh tướng. Bao phong cho Tuấn công làm Hưng Đạo Đại Vương. Từ đó, quân
thần hiệp đức, thiên hạ thái hòa, quốc gia vô sự. Lại gia thưởng phương dân các
địa đầu, thiếp lập đồn doanh để cho Tuấn công làm nơi ngơi nghỉ, sau này nhân
dân lập từ phụng sự, tế lễ hương hỏa muôn đời ở đó, biểu thị phương danh của
bậc công thần, mãi lưu hậu thế.
Một ngày, Tuấn công thỉnh vua nhàn du, vua nghe theo, Tuấn
công bái tạ điện tiền rồi loan giá cử binh du ngoạn khắp nơi. Một hôm, ông xa
giá trở lại xã Khúc Thủy, trú binh ở đó mấy ngày, tu sửa cảnh chùa, nhân dân
hành lễ bái hạ. Xong việc, ông lại xa giá đến xã Khê Tang, truyền binh sỹ, nhân
dân xây dựng doanh sở để cho chu tất. Ngày hôm đó (tức ngày 10 tháng 9) Tuấn
công triệu phụ lão, nhân dân đến cùng mở hội yến, trong lúc yến ẩm, Tuấn công
bèn nói với phụ lão và nhân dân rằng: “Ta với nhân dân đã trở thành nghĩa sâu
từ trước kia rồi, chẳng phải đến hôm nay mới có ân tình như vậy! Ví như trong
lúc chinh chiến, dân chúng cũng theo ta hơn trăm người làm thủ túc, gian khổ
ngàn dặm, trung tiết một lòng, sư đệ chí tình, quân thần hữu đạo, đều là người
của một ấp, chẳng phải là người ngoài vậy! Nay đội ơn đức vua, lại cho đồn
doanh các nơi là đất ngụ lộc của ta, sau này để phụng sự ta, há chẳng phải cái
nghĩa vững bền hay sao! Nay có nơi đồn, ta đã xem qua hình thế tựa hoa sen nở,
hậu trẩm mộc tinh kết mạch, tả hữu phong tinh đều đến chầu, trước có minh đường
tú thủy, bàng bút cư phía trước, phía tả có hình rồng chim phượng, phía tây nam
tất thảy đều triều phục, đó là đất quý của Khê Tang”. Ông bèn sức dân sửa chữa,
lại ban hoàng kim trăm hốt để giúp dân tu sửa chùa chiền. Phụ nữ, nhân dân đều
hoan hỷ thụ mệnh theo sự uỷ thác của ông. Xong việc, ông lại xa giá hồi triều,
lúc đó là tháng 2 mùa Xuân, Thái Tông truyền vị cho Hoàng thái tử, hiệu gọi là
Thánh Tông hoàng đế, tôn Thái Tông làm Thái thượng hoàng. Khi Thánh Tông lên
ngôi bèn phong Tuấn công làm Quốc công, thống lãnh các việc của chư quân. Khải
công làm Thái uý, Thành công làm Thái bảo (cũng là em Tuấn công), bèn đem binh
theo Thượng hoàng đi thảo phạt bọn Man Liêu ở động Lẫm Bà. Thảo phạt xong xa
giá hồi kinh, đến tháng 4, Trần Thái Tông băng hà. Trải đến Nhân Tông hoàng đế
(tức con trưởng của Thánh Tông, tại vị 14 năm thì băng). Trong thời gian này,
Hoàng đế nhà Nguyên sai Thái tử Trấn Nam Vương Thoát Hoan làm Bình chương sự
các vùng ven biển ở An Thứ và An Lý, đem trăm vạn tinh binh đến xâm lược nước
ta. Ngay sáng sớm hôm đó, thấy sao Thái Bạch di chuyển giữa bầu trời, vua hỏi
quần thần đều không ứng tấu được, chỉ có Tuấn công tấu rằng:“Bắc binh lại đến
xâm lược”. Chưa qua chiều tối, khi lời tấu còn như chưa dứt, bỗng thấy phiên
thần biên thư cấp báo. Hoàng thượng (tức Thánh Tông) mời phụ lão trong thiên hạ
đến vấn kế, muôn người cùng nói rằng: “Đánh!”. Hoàng thượng tái phong cho Tuấn
công làm Quốc công tiết chế kiêm Thập đạo tướng quân lãnh 50 vạn hùng binh xuất
chiến. Ngay trong ngày hôm đó, Tuấn công lãnh mệnh chinh phạt quân Nguyên,
đường đường xuất quân từ cổng thành tiến thẳng đến các đường Vân Trường, Ba
Điểm, Hải Đông nghênh chiến. Khi ấy, quân Nguyên phân hai đạo, một đạo tiến đến
Thuỷ Chu, một đạo tiến đến Lộc Châu. Quan quân chống giữ quanh đỉnh Khâu Ôn,
Khâu Cấp bị quân Nguyên đánh bại, thế khó có thể cự được giặc Nguyên. Quân giặc
tiến thẳng sau vào nội địa. Tại Vạn Kiếp, thuỷ đạo của Thành công chiến đấu với
quân Nguyên, thế giặc mạnh nên Thành công nhảy xuống sông tự vẫn, quan quân
thua chạy. Vua nghe quân Nguyên đã phạm đến kinh sư, quan quân bại nhiều bèn bỏ
thành, ngự trên một chiến thuyền rời đến Đông Hải rồi gặp Tuấn công mà nói
rằng: “Thế nước an nguy đều dựa vào Lão thần”. Tuấn công tâu rằng: “Nguyên tuy
trăm vạn tinh binh, thần nguyện xem như thủ nhĩ của Liệu Hồng”. Nhà vua nghe
vậy rất vui bèn ngâm một bài thơ:
"Quốc
gia yên ổn dựa ở ta
Xã
tắc tồn vong dựa lão thần
Quân
sỹ cần lao vì vận nước
Chẳng
từ gian khó báo ơn vua".
Lại nói, Tuấn công nghe việc quân Nguyên đã cướp đồn Vạn
Kiếp. Hưng Vương (tức Tuấn công) truyền hịch các đạo binh cùng hội quân đến
thẳng Vạn Kiếp để chống quân giặc, bốn mặt hiệp chiến, quân Nguyên đại bại tan
tác. Hưng Vương truyền binh lập đồn ở Phả Lại, Chí Linh, truyền chư tướng cố
thủ, trước là để giữ yên vùng biển, sau là khi quân Nguyên trở về tất sẽ qua
đường này. Trước tiên, Hưng Vương bí mật sai chư tướng phục binh ở cửa biển Tam
Giang cùng Nguyễn Khoái lãnh đội quân Thánh dực Nghĩa dũng kiên thủ đồn doanh,
chiến đấu với thuỷ đạo của tướng Ô Mã Nhi. Trong lúc đó, Hưng Đạo Đại Vương
chiến đấu một trận ở đồn chính Vạn Kiếp, quân Nguyên thua chạy, thoái lui về
sông Bạch Đằng. Hưng Đạo vương truy chiến, thừa nước thuỷ triều lên dụ chiến ở
phía bắc. Ô Mã Nhi cho là tất thắng liền dồn sức truy đuổi, bấy giờ con nước
rút xuống, Nguyễn Khoái phục binh truy kích. Đại bại, Ô Mã Nhi thu hết số
thuyền còn lại bỏ chạy, đúng lúc thủy triều rút xuống nhanh chóng, thuyền giặc
mắc cọc chìm đắm gần hết, quân Nguyên chết đuối vô kể, nước đỏ một màu. Quân ta
bắt sống Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp dâng lên Thượng hoàng. Thượng hoàng bèn đưa Ô Mã
Nhi lên thuyền đưa đến ngã ba sông Bạch Đằng trảm làm ba đoạn. Từ đó quân
Nguyên không dám đến xâm phạm nước ta nữa, việc đánh giặc đã xong. Nhà vua cùng
Tuấn công trở về (tức ngày 7 tháng 5), đến huyện Ứng Hoà, phủ Ứng Thiên, trấn
Sơn Nam, vua hạ trại trú binh ở đó. Ngày hôm đó, nhân dân các xã Khê Tang, Khúc
Thủy đều ra hành lễ bái hạ. Nhà vua mở yến tiệc lớn, bách quan cùng vui mừng.
Lúc đó, nhân trong tiệc vui, vua bảo với bách quan rằng: “Quốc gia lại được yên
bình là do dựa vào sức của Tuấn công, như trẫm thì làm gì! Nay gia phong Tuấn
công làm Quốc lão hiển tướng đại vương, hứa cho các đồn binh sở tại cùng lập
sinh từ phụng sự để báo đáp công lao, há chẳng tốt lành sao!”. Khi ấy, Khê
Tang, Khúc Thủy đều thụ mệnh lãnh ý chỉ. Nhà vua còn ở lại đất này để giải giáp
binh lính hơn mười ngày.
Tuấn công trở lại đồn Khê Tang, hôm đó (tức ngày 11 tháng
5), nhân dân thiết lập hành cung hành lễ, Tuấn công nói với phụ lão, nhân dân
rằng: “Vương sự cần lao, mệnh thì nhẹ nhàng thôi, không ngờ đến ngày hôm nay
lại được sống sót mà quay về vui cùng nhân dân. Ví thử sau này vạn nhất ra sao,
hôm nay (tức ngày 12 tháng 5) lấy làm ngày sinh của ta”. Chúng thần, nhân dân
đều tuân theo thụ mệnh ông. Ngài cư ở đây, đại khai yến tiệc bảy tám ngày.
Khi vua cử giá hồi kinh, ông cử binh theo ngọc giá hồi kinh
phụng sự. Ngày hôm đó, vua đại khai yến tiệc, gia phong ban thưởng công thần,
lại bao phong cho Tuấn công làm Quốc công Thượng tướng quân kiêm Tri nội ngoại
các, thống lãnh văn võ bách quan.
Lại nói, sau khi Tuấn công quét sạch giặc Nguyên, đất nước
thanh bình, năm đó ông đã cao tuổi liền tạ ơn vua xin về đất Vạn Kiếp (tức đền
Kiếp Bạc) dưỡng nhàn, việc nước việc quân để con thay ông (ông sinh được 5
người con trai, vua đều phong vương) cùng Khải công phụ chính. Vua đồng ý, bèn
gia tặng kim ngọc, lụa tiền hơn 500 cân. Xa giá bách quan tiễn ông về đất Vạn
Kiếp, truyền nhân dân thiết lập các quán cư (khi ấy người hai xã Khê Tang và
Khúc Thủy theo ông làm thủ túc 129 người). Từ đó, ông thường về cung cấp, tu
sửa sinh từ, nhàn du bến nước. Ngày qua tháng lại, ông đã 82 tuổi, vua thường đến
thăm hỏi. Vào mùa thu (tức ngày 10), Tuấn công quốc lão nhàn toạ trong cung,
bống thấy hoàng xà (rắn vàng) dài hơn 20 trượng xông thẳng vào chính tẩm trong
cung, thoáng chốc đã biến mất, ông bạo bệnh, vua thân hành đến hỏi thăm quốc
sự: “Sau này ai có thể đảm đương được việc nước”. Ông nói:“Các con của thần đều
có thể đảm nhiệm được”. Ông lại tâu với vua:“Đất Khê Tang, Khúc Thủy từ trước
đây thần đã có thân tình, nay thành nghĩa cũ đều là sư đệ một nhà. Xin vua
thương miễn dịch về lương binh, thần đã được đội ơn rồi”. Vua đồng ý cho như
vậy. Ông lại tâu rằng: “Sau khi thần hoá, xin bệ hạ cho hoả thiêu, thân tro để
vào đất Lạc Trung Viên, rừng cây tươi tốt, chớ đặt mộ ở núi, bọn giặc biết”.
Khi đó, giờ Ngọ, ngày 20 tháng 8, bỗng thấy gió mây loạn khởi, trời tựa như
đêm, đúng lúc đó Tuấn công quốc lão hoá. Vua mệnh cho các quan hành lễ lập đàn
hoả thiêu, khi xương cốt gần tàn, bỗng thấy đám khói bốc lên, Tuấn công cưỡi
mây thăng thiên biến mất. Bách quan cùng nhân dân đều kinh ngạc, vua truyền các
quan cất tro cốt ở dưới đất Lạc Trung Viên, trồng cây lên trên thành một khu
rừng.
Lại nói, khi an táng xong, vua xa giá về kinh, bao phong mỹ
tự, truyền các sở tại chuyển giá tề tựu đến kinh thành đón sắc chỉ mang về
phụng tự bách niên vạn cổ, hương hoả vô cùng, dài lâu cùng nước, lấy làm hằng
thức thịnh mãi về sau. Phong ông làm Quốc lão hiển tướng đại vương. Nhân dân
các nơi cùng tề tựu về kinh thành hành lễ, ngày hôm đó trời đất hối minh, nhân
dân hành lễ xong, vua mệnh đình thần đón sắc chỉ trở về từ ấp hành lễ khâm tế
(Vạn Kiếp là chính sở, trước đây Thái Tông phạt giặc Mông Cổ, ông đã có công
đánh đuổi giặc đem lại thái bình cho đất nước, Thái Tông đã phong mỹ tự cho ông
khi còn sống, khắc vào lòng bi để lập đàn từ, hơn 10 nơi tuân theo mỹ hiệu khi
ông còn sống để phụng tạ, việc này có ghi trong tích khác). Xong việc, vua nghĩ
đến lời chúc khi ông lâm chung bèn hứa cho đất Khê Tang, Khúc Thủy được miễn
dịch, xuân thu nhị kỳ sai quan đến tế, bao phong Thượng đẳng phúc thần, hương
hoả vô cùng ở đó.
Lại nói, cuối đời nhà Trần, truyền vận nước cho vua nhỏ, Hồ
Quý Ly, Hán Thương thoán vị bức vua xuất gia tu đạo. Vua có cận thần giữ chức
Nội các thị vệ tên là Đặng Thông công (theo xưa, Đặng Thông công vốn là con của
Ái Chân công. Cha làm Thượng tướng của nhà trần, sống ở huyện Vĩnh Ninh, là
người Hà Lãng. Mẹ là Trương Thị An, mộng thấy nhập chùa Tây Thiên, Thích Già
tặng cho một cành hoa sen rồi có thai, đến ngày 15 tháng 1 năm Mậu Thìn sinh ra
ông. Mặt vuông, tai lớn, trán có hoa dây, tam viên cao thật khác người thường.
Vừa năm ông 20 tuổi, cha ông làm Thượng tướng quân triều Thuận Tông. Khi ấy,
vua nhỏ là Thái tử, Thông công cùng vua nhỏ thương nhau như anh em ruột. Vừa
khi vua nhỏ lên ngôi, mệnh cho ông giữ chức Nội các thị vệ. Khi ấy, Hồ Quý Ly
Hán Thương tiếm vị nhà Trần, vua tự vẫn, cha ông là Ái Chân công lại bị Hồ Quý
Ly sát hại, quan lại thân thuộc nhà lại nhà Trần cũng đều bị Hồ Quý Lý sát hại
hơn 300 người. Ông phải bỏ trốn, xuống tóc làm tăng nhân nương nhờ cửa Phật)
xuống tóc làm tăng, xu tầm thiền gia cảnh Phật để tránh người Hồ, đến thẳng
Khúc Thủy huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên xứ Sơn Nam (trước đây Tuấn công sống ở
đó gọi là Long Trì tự, sau đổi là Trì Bồng tự). Ông mới nhập cư giữ chùa, trải
được ba năm. Một hôm, trong đêm tối ông toạ trong trai phòng ngủ thiếp, thấy
một quan nhân áo lụa chỉnh tề, đường đường binh mã tiến đến, ông bật dậy hỏi:
“Ông là quan chức từ đâu đến?”. Quan nhân trả lời: “Ta là quốc lão nhà trần”. Vị quan nhân chưa trả lời
xong, ông đã hỏi:“Ông muốn báo việc gì”. Quan nhân bảo ông rằng: “Cấp báo rằng,
cấp báo rằng, quân Hồ ngày mai sẽ đến cửa thiền, hãy mau chóng chạy về đất Khê
Tang, huynh đệ cùng giúp đỡ”. Ông bừng tỉnh dậy, như còn thấy mộng, trong lòng
lo sợ. Lúc ấy, gà điểm canh ba, quả nhiên quân Hồ bốn mặt bao vây. Ông cầm trượng
trong tay, một mình phá vây, quân Hồ tan tác rồi chạy thẳng qua sông đến ấp Khê
Tang, vào đền Tuấn công ẩn náu. Quân Hồ truy đuổi phía sau, đến đền tất thảy
đều kinh hãi vì không thấy ông đâu nữa liền giải vây trở về. Ông ẩn náu trong
đó được năm ngày thì nhân dân có biến động lớn, tật bệnh hoành hành, bèn lập
đàn cầu đảo mong sự yên ổn. Đêm đó, nhân dân mộng thấy Tuấn công và Thông công
toạ ở gác thượng trong đền, hai bên tả hữu binh mã đứng hầu hơn 500 người, rồi
triệu nhân dân đến trước sân đền. Tuấn công trách nhân dân rằng: “Nay có quý
nhân phó nhiệm cùng giúp ta việc quan, thế mà dân chúng thờ ơ vô lễ, vì thế gia
thần binh hỏi trách nhân dân trong ấp”. Chưa dứt lời, nhân dân đã tỉnh dậy,
biết rằng mộng báo. Sáng sớm cùng hành lễ nhập đền cầu đảo, ngưỡng trông trong
gác thấy Thông công, thân mặc áo Bát Hán, đầu đội Phật quan tọa phía bên phải.
Nhân dân nhớ đến giấc mộng mới hỏi rằng:“Tăng quan ở đâu đến?”. Ông báo rõ đầu
đuôi, nhân dân nghe những lời ấy hoàn toàn giống với những điều đã mộng thấy.
Ngay ngày hôm đó (tức 20 tháng 10), nhân dân hành lễ xin làm thần tử, ông đồng
ý. Từ đó, bệnh tật đều dứt, nhân dân sớm tối thay nhau đến nuôi dưỡng ông. Được
mấy năm, ông đã giáo hoá nhân dân lễ nghĩa, thay đổi thuần phong mỹ tục.
Thời đó, con
thứ của Nghệ Tông (Trần Giản Định) phục khởi nghĩa binh, tảo trừ Hồ Quý Ly, Hán
Thương. Quân Minh trợ chiếm mới phong Giản Định làm Nam quốc quận vương. Khi
đó, Thông công nghe nhà Trần phục nghĩa binh, ông bèn chiêu mộ dân binh gia
thần hơn 500 người (khi đó Khúc Thủy 21 người, Khê Tang 112 người theo ông
chinh phạt) để giúp Trần Giản Định. Sau khi công cuộc thảo phạt Hồ Quý Ly, Hán
Thương bình định, Giản Định lên ngôi, phong cho ông làm Phó tướng quân. Thông
công từ chối không nhận mà xin theo Phật tìm về cõi tịnh độ, không muốn danh
lợi luỵ trần, vua đồng ý, lại phong ông làm Linh Thông hoà thượng, gia tặng kim
ngân hơn trăm hốt cùng gấm lụa. Ông liền khấu tạ vua rồi trở về hai xã Khê
Tang, Khúc Thủy, tặng cho nhân dân hơn một trăm kim ngân để tu sửa cảnh chùa và
các đền, cùng ban thưởng cho các gia thần. Xong việc, ông bèn nhàn du thế giới
thiền môn, vui thú rừng tùng núi trúc. Một hôm, ông lên lăng mộ các tiên đế ở
đền Giáp Sơn và có thơ rằng:
"Một mối cương thường trọn thân này
Rửa thù Hồ giặc báo tình vua
Khê Tang, Khúc Thủy cùng thành đẹp
Vạn cổ tiếng thơm với thế nhân".
Đọc xong, ông
hành lễ mộ các tiên đế, bỗng thấy trong đền (tức đền Ái Chân công) có một đám
mây vàng từ trong đền bay thẳng lên trời, được một lúc, trời đất u ám vần vũ,
gió mây cuồng khởi rồi ông tự hoá. Hôm đó ngày 15 tháng 2, Thanh đồng lấy làm
việc lạ trở về ấp hô hoán nhân dân cùng lên núi đã thấy thổ trùng đắp thành mộ.
Nhân dân hành lễ rồi lập thần hiệu phụng tự ở đó cùng với đền cha ông. Lúc đó,
nhân dân hai xã Khê Tang, Khúc Thủy nhớ đến công đức cao như núi, rộng như sông
và những điều mộng báo trước đây bèn viết thần hiệu, tuân theo sự gia phong của
vua để trong đền cùng nhau phụng tự. Từ đó, quốc gia, nhân dân cầu đảo, bốn mùa
hương hoả, linh ứng vô cùng, từ vũ huy hoàng, phong tục của nhân dân rất thịnh.
Hậu nhân mới có thơ rằng:
"Hai vị danh thần việc một nhà
Tiếng thơm vạn cổ sánh non sông
Trung quân hiếu phụ như còn tại
Cùng với trời cao những đất dày".
Lại nói, khi
nhà Trần mạt, họ Hồ tranh quyền, quân Ngô khởi nghĩa, thiên hạ nhiễu loạn, lại
có họ Lê, huý là Lợi ở Lam Sơn, phủ Thiệu Thiên, Ái Châu dấy binh khởi nghĩa,
3.000 hổ tướng tiễu trừ họ Hồ, yên định người Ngô. Trong lúc chinh chiến, tướng
nhà Lê là Khả công lai vãng đến đền Khê Tang cầu đảo việc tiễu trừ dư đảng họ
Hồ, thảo bình giặc Ngô, sau này thành vương nghiệp lập tức bao phong Thượng
đẳng phúc thần. Về sau, quả thực việc cầu đảo linh ứng, quét sạch giặc Ngô, rồi
lên ngôi ở Lam Sơn, niên hiệu Thuận Đức (tức Thái Tổ Cao Hoàng đế, sau đổi làm
làng Lam Sơn, huyện Thuỵ Nguyên). Khi thiên hạ thái bình, vua bao phong mỹ tự
cho thần là Thượng đẳng phúc thần, tạ lễ vạn cổ, hương hỏa vô cùng, dài lâu
cùng vận nước. Lê Thái Tổ gia phong: Quốc lão hiển tướng linh ứng đại vương,
Linh Thông phổ tế đại vương. Xã Khê Tang giữ việc phụng tự xuân thu nhị kỳ,
quốc triều sai quan đến tế ở nơi này. Trải các triều đại Thái Tông, Nhân Tông,
Thánh Tông, Hiến Tông cho đến Thiệu Tông thì bị quyền thần họ Mạc (đây là huyền
tôn bốn đời của Mạc Đĩnh Chi làm nghề giao phu) tiếm vị xưng vương, hiệu Đại Xích
Thiên Hạ, niên hiệu Minh Đức. Trải được ba đời đế vương, đến Lê Trang Tông cùng
với đại thần Thái uý người nội trang Gia Miêu, huyện Tống Sơn tái khởi nghĩa
trừ nghiệt Mạc. Khi ấy lại cầu ở đền Khê Tang cũng được linh ứng, âm phù trừ
Mạc, phục lại vận nước nhà Lê. Sau khi thanh bình, Trang Tông lên ngôi, lại bao
phong mỹ tự cho bách thần, trải đến Thế Tông, Kính Tông, niên hiệu Hồng Đức,
Gia Thái, Quang Hưng đến Vĩnh Tộ, Chính Hòa, Bảo Thái đều được linh ứng, hộ
quốc cứu dân. Cho nên, đế vương các triều đại đều gia phong mỹ tự, hương hoả vô
cùng, phối cùng trời đất. Sau phong Hộ quốc huệ dân dực vận. Các nơi đều gia
phong thêm hai mỹ tự.
Ngày sinh, ngày
hoá cho đến tiết Khánh hạ cùng tên huý, sắc phục được liệt kê dưới đây:
Ngày sinh 10
tháng 3, lễ gồm gà, xôi, rượu. Phụ lão chơi đàn bát âm ca hát một ngày.
Ngày Khánh hạ
20 tháng 5, là ngày Đại vương lấy làm ngày sinh, trước một ngày làm lễ mộc dục
tại miếu, quét dọn quanh miếu, tu sửa xa giá, hành lễ trâu, bò, lợn, xôi. Hát
ca, đầu cờ, đấu vật trong 10 ngày.
Ngày hóa 20
tháng 8, lễ gồm trâu, bò, xôi, rượu, bánh dày.
Ngày sinh 15
tháng 1, lễ trước tiên dùng cỗ chay, hoa quả, trà nóng, ca hát một ngày đêm,
sau đó dùng lợn, xôi hành lễ ở nơi tế.
Chữ húy Tuấn,
Quốc, Thông, Liễu, Chân. Sắc phục màu vàng cũng cấm mặc. Hàng năm, đến ngày sóc
vọng hàng tháng thì hành lễ gà, lợn. Ngày quốc tế, xuân tế lấy ngày 10 tháng 3.
thu tế lấy ngày 10 tháng 8, dùng đồ tế đặc biệt.
Ngày 10 tháng
2, niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên.
Ngày 6 tháng 2,
Hoàng triều Vĩnh Tộ, Quản giám bách thần, thần Lê Nguyễn Chức phụng theo bản cũ
của tiền triều phụng viết chữ.
Hàn lâm viện
Đông các đại học sỹ, thần Nguyễn Bính phụng soạn.
Ngày 18 tháng
11, niên hiệu Tự Đức thứ 3 (1850), sao lại nguyên bản ở xã Bình Đăng, huyện
Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây.
Tàng bản của Tô
Thị Lang, chùa Cổ Tích, huyện Sơn Vi./.
Thông báo Hán Nôm học
2008; tr.25-43
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét